Lịch Sử Phát Triển Rock & Metal

Gần cuối thập niên 80, Metal nói chung lại một lần nữa trở thành một loại nhạc không có sức sáng tạo nào mới. Những ban nhạc Pop và Thrash Metal trình bày quá giống nhau và chỉ thấy còn vài ban nhạc cũ. Trong làng nhạc Rock/Heavy, MÖTLEY CRÜE, GUNS N’ ROSES và METALICA vẫn có ảnh hưởng mạnh; DEF LEPPARD và BON JOVI lại thiếu vắng trên sân khấu. Thể loại Thrash xuống dốc nhanh chóng vì các ban nhạc chỉ lập lại những gì đã có. SLAYER, MEGADETH và METALLICA đều giảm “tốc độ” và chơi nhẹ nhàng hơn trong nhiều mức độ khác nhau. Nhưng cũng thật là bất ngờ khi đĩa “Black” của METALLICA lại giữ vững vị trí rất lâu trong các bảng xắp hạng. DEATH và DOOM METAL đã hoàn toàn hồi sinh, nhưng SPEED và GLAM cần gấp cứu tinh.

Không có ai cứu vớt Pop Metal, nhưng Thrash Metal đã được cứu thoát nhờ PANTERA. Nhưng việc cách mạng hoá Thrash Metal bởi Pantera (nguyên thủy là một ban nhạc Glam Metal) thật ra đầu tiên là công khai thác và sáng tạo của EXHORDER * (86), một ban nhạc đã không được đánh giá đúng mức. Chàng ca sĩ Phil Anselmo đã khẳng định rằng nhịp nhanh (Speed) không còn là một yếu tố chính nữa, mà là một “power groove” (con đường mòn của năng lực). Những đoạn riff đã trở nên “nặng” thất thường mà không cần phải như sấm rền hoặc âm điệu phải cực kỳ thấp; tiếng đàn không cần như phải vặn vẹo méo mó tai người nghe như Death Metal (distorted guitars); nhịp điệu được giữ mức của Heavy Metal đều đều và giọng hát là một sư hòa hợp giữa kiểu gầm gừ trong cổ họng và la thét lên lanh lảnh. Tất cả là một hướng mới của Thrash Metal của thập niên 90! Trong khi đó, phải nói rằng Pop Metal lại còn phải hứng chịu một số mệnh đau buồn khác: chết dưới tay Alternative Metal.

ngờ uồn gốc của Alternative Metal bắt đầu từ ban nhạc CRAZY HORSE do Neil Young bảo trợ và ngay cả trước đó là từ THE VENTURES (59) và THE VELVET UNDERGROUND (64). Nhưng phải kể đến những ban nhạc thực sự gây phong trào là FAITH NO MORE (82), LIVING COLOUR (84) và JANE’s ADDICTION (84). Living Colour có một lối chơi lập dị qua sự kết hợp mọi thứ vào nhau: Heavy Metal, Jazz, Blues, Rap, Funk, Hardcore và cả âm nhạc của người da đen **. Jane’s Addiction ảnh hưởng những thể điệu trong thập niên 70 và phát triển thành một lối trình bày riêng của mình qua tiếng hát như kêu ré khiếp đảm của anh chàng ca sĩ Perry Farrell. Còn Faith No More thì pha trộn tất cả các thể loại nhạc vào nhau thể hiện qua giọng gào thét rùng rợn của Mike Patton trong các đĩa thành công của họ (thí dụ như “The Real Thing”). Sau đó, các ban nhạc SCATTERBRAIN, Mr. BUNGLE) và MINDFUNK đã phổ biến lối chơi này rộng rãi hơn. Họ đã thành công vượt mức trước khi Alternative Metal xuất hiện và đã che khuất sự rung chuyển của các ban nhạc khác như là SONIC YOUTH chơi theo thể loại Hardcore, FISHBONE với cường điệu mạnh bạo, MELVINS, TAD, MUDHONEY (đều xuất thân từ Seattle) và THERAPY? *** (89, Ireland). Dĩ nhiên còn phải kể đến MOTHER LOVE BONE nhưng ban nhạc này chưa bao giờ nổi tiếng thực sự mặc dù nhạc của họ rất xuất sắc (album duy nhất là “Apple”).

Chuyện gì xảy đến sau đó? Đó là NIRVANA đã làm cho thế giới như nổ tung lên qua bài “Smells Like Teen Spirit”! Sự kết hợp hài hoà giữa giọng hát với giai điệu thật gần gũi với mọi người và cảm giác tội lỗi về thế giới của Grunge đã nhanh chóng thu hút được một số đông người hâm mộ đang ao ước được nghe một loại nhạc gì khác và mới mẻ. Lời nhạc chứa đầy sự thất vọng chán chường của Kurt Cobain đã thu hút hàng triệu tín đồ thanh niên nam nữ của “thế hệ X” giống như là Glam Metal chưa từng có ai nghe qua! Sự hào nhoáng và dục tính hầu như không thực tế chút nào, hay ít ra người ra đã từng nghĩ như thế! Cho đến khi Kurt Cobain tự sát năm 1994, những anh chàng nhạc sĩ của Nirvana là con cưng của MTV và đã thúc đẩy được phong trào tại Seattle, làm cho Heavy Metal ở Los Angeles có phần chìm lắng xuống.

Phong trào Grunge bùng nổ thành công dữ dội trên thương trường đến nỗi những ban nhạc Alternative Metal phải tìm cách làm cho tình thế đi đến độ bão hòa, no nê qua sự tràn ngập thị trường. Một số ít ban nhạc giữ được phong cách nguyên thủy của họ, thí dụ như THE BLACK CROWES và FOUR HORSEMENT chơi lại kiểu Rock thời 60; PRIDE & GLORY với âm thanh ảnh hưởng Southern Rock (heavy blues-rock của cuối thập niên 60); LOVE/HATE, ALMIGHTY và WARRIOR SOUL (mang đậm màu sắc chính trị) đều trung thành tuyệt đối với Heavy Metal.

Sau sự bùng nổ của Nirvana, nhiều ban nhạc khác đã nhanh chóng đạt đến tuyệt đỉnh danh vọng. SOUNDGARDEN (84) giữ vững nền nhạc đã được thử thách và trung thực của mình; ALICE IN CHAINS (87) trình bày một phong cách tối tăm và ủ rũ hơn; PEARL JAM (90) có lẽ là một trong những ban nhạc đáng kể nhất trong dòng Alternative đã hiến tặng người nghe những sáng tác và giai điệu của họ qua tiếng đàn, giọng ca trầm của EDDIE VEDDER cùng những tâm tình qua tuyệt phẩm đầu tay “Ten”. Alternative Metal lớn mạnh cũng nhờ MTV tiếp sức đưa các ban nhạc này lên thành những ngôi sao sáng chói, trong khi Heavy Metal chỉ nhận được sự ủng hộ của chương trình phát hình số 1 này một vài năm, sau đó bị bỏ rơi mà không có lý do nào chính đáng.

Sau này, thiết tưởng cũng nên nghe qua những ban nhạc như STONE TEMPLE PILOTS (bị công kích là “chôm bài” của Pearl Jam), SOUL ASYLUM chuyển hướng từ Punk sang Alternative, MY SISTER’S MACHINE sống chỉ 3 năm với 3 albums, và SAIGON KICK, BLIND MELON, BIG CHIEF, CANDLEBOS, DINOSAUR Jr., MOIST, SPONGE đều thành công ở nhiều mức độ và địa phận khác nhau.

Trong khi đó, Progressive Metal lại đạt đến tột đỉnh danh vọng trên thị trường. Đĩa “Images and Words” của DREAM THEATER là một sự tập hợp khá phức tạp của loại nhạc Progressive đã được bán rất chạy, qua đó quảng bá được Progressive Metal rộng rãi khắp nơi. Đó là một sự kiện rất hiếm trước đây. Những đĩa như “Awake” và “A Change Of Seasons” của các nhạc sĩ ưu tú trong ban nhạc này đã nới rộng chân trời nghệ thuật của họ xa hơn nữa cũng như đã củng cố được danh tiếng của mình là một trong những ban nhạc Progressive Metal lừng danh nhất. Trong sự thành công của Dream Theater, nhiều ban nhạc khác đã bắt đầu thử nghiệm loại nhạc Heavy Metal mang đầy đặc điểm kỹ thuật này với một phong cách riêng gọi là Progressive Thrash như ban nhạc WATCHTOWER (86).

Nằm trong danh sách các ban nhạc tiêu biểu xuất sắt này còn phải kể đến SHADOW GALLERY, DAMN THE MACHINE, AYREON, SYMPHONY X, SPASTIC INK và PAIN OF SALVATION, tất cả đã liên tục là những người dẫn đầu trong loại nhạc này. Cùng song hành với họ, nhiều ban nhạc khác lại còn có những phóng tác kỳ dị hơn về Progressive Thrash Metal như ban nhạc ANACRUSIS hoặc là Progressive kết hợp với Death Metal và Jazz được ẩn náu trong những bài của ATHEIST và CYNIC.

Ghi chú:

* Đĩa “Slaughter in the Vatican” của Exhorder phát hành năm 90 không được chào đón hồ hởi lắm, vì cái tựa đề và bao nhãn bên ngoài, nhưng đã lót đường cho Pantera tạo nên tuyệt phẩm “Cowboys From Hell” qua hướng nghệ thuật mới của dòng Thrash Metal.

** Tôi nghĩ tác giả ám chỉ dòng nhạc Black Gospel có xuất xứ từ những xúc cảm của người da đen từ những ngày phải sống trong sự nô lệ, áp bức. Thực ra điều này hơi thừa vì âm điệu của Black Gospel cũng bắt ngờ uồn từ Jazz và Blues đã lược kê ra.

*** Ban nhạc này nhất định giữ dấu hỏi “?” vào tên để phân biệt với một ban khác trùng tên Therapy năm 1971.