Một trong những ban nhạc có tầm ảnh hưởng lớn nhất của Rock n Roll

Phần I: Từ ngày thành lập đến lúc phát hành Tommy

Tiền thân của The Who là Detours – một band được thành lập bởi tay ghi ta Roger Daltrey (sinh ngày 1/3/1944) ở Luân Đôn hè 1961. Đầu 1962, Roger tuyển thêm John Entwistle (sinh 9/10/1944) trước chơi bass trong các band hồi còn học chung trường Acton County Grammar. John sau đó đề cử thêm tay ghi ta Pete Townshend (sinh 19/5/1945) – bạn cùng trường và cũng là bạn của ban nhạc. Và tay trống của band là Doug Sandom và vocal là Colin Dason. Chẳng bao lâu sau Colin rời Detours và Roger kiêm luôn chân ca sỹ. Nhóm chơi 3 tay và 1 ca sỹ trong suốt những năm cuối thập kỷ 70. Thoạt đầu Detours cover lại một số ca khúc pop nhưng sau đó nhanh chóng chuyển hướng sang cover thể loại rhythm’n’blues của Mỹ, nặng và ồn ào hơn.
Đầu 1964 Detours phát hiện ra có 1 nhóm đối thủ cũng mang tên Detours và họ quyết định đổi tên nhóm. Bạn học của Pete hồi ở trường nghệ thuật là Richard Barnes đưa ra cái tên “The Who” và chính thức được chọn làm tên của band. Ít lâu sau, vào tháng 4, Doug Sandom rời band và thế chân anh là Keith Moon (sinh 23/8/1947), một tay trống trẻ cuồng nhiệt với trang phục màu gừng, tóc nhuộm – Moon nằng nặc đòi diễn chung với The Who trong một buổi diễn. Anh đã dập tan tành pedal của tay trống cũ và cuối cùng được chấp nhận tham gia ban nhạc.

The Who cũng phát hiện ra một cách mới để thu hút khán giả khi Pete vô tình làm gãy cần đàn của anh trong một show do trần sân khấu quá thấp. Những lần diễn sau đó, các fan liên tiếp la ó cổ vũ cho Pete đập đàn. Pete chiều luôn và Keith nối tiếp bằng cách đập vỡ cả bộ trống của mình. Cũng trong khoảng thời gian này, Pete phát triển kĩ thuật git kiểu “đánh xoắn” * của Keith Richards.

Tháng 5/1964, ông bầu của The Who là Pete Meaden – người nổi tiếng trong một trào lưu mới của giới trẻ Anh Quốc – trào lưu Mod với với những chàng trai trẻ ăn mặc sành điệu và đầu tóc cắt ngắn. Meaden đổi tên The Who thành The High Numbers. Các mod thường gọi nhau theo số (numbers) và “high” ám chỉ đẳng cấp cao cùng với việc sử dụng leaper – một loại chất kích thích cho phép họ party không ngừng nghỉ. Meaden viết ca khúc duy nhất cho The High Numbers là “I’m the face”, hỗ trợ bởi ca khúc “Zoot suit”. Cả 2 ca khúc này là những bản R’n’B cũ với lời mới về giới mods. Mặc dù đã rất cố gắng song đĩa đơn này thất bại. Tuy nhiên The High Numbers trở thành favorite band của Mods. Đây cũng là lúc Kit Lambert (con trai nhà sáng tác Christopher Lambert) và Christ Stamp (anh trai diễn viên Terence Stamp) đang tìm kiếm một ban nhạc để dựng phim. Họ phát hiện ra The High Numbers vào tháng 7/1974 và trở thành những ông bầu mới của band này. Sau khi thất bại với hãng EMI Records, band lại trở về với cái tên cũ là The Who.

Tháng 11/1964, sau một đêm diễn tại Marquee Club, The Who lần đầu tiên được chú ý ở Luân Đôn với những tờ rơi nền đen in hình Pete và huyền thoại “Maximum R&B” do Richard Barnes thiết kế.

Không lâu sau khi Kit và Christ yêu cầu Pete sáng tác cho nhóm, Pete cho ra ca khúc “I can’t explain” theo phong cách của The Kinks và đã thuyết phục được nhà sản xuất Talmy ký hợp đồng với mình trong vòng 5 năm. Talmy sau đó lại hợp đồng tiếp với Decca Records của Mỹ.

Những ca khúc đầu tiên được Pete viết phù hợp với phong cách hùng hổ trên sân khấu của Roger. Lúc đó Roger là trưởng nhóm và anh lãnh đạo band bằng “nắm đấm”. Trong khi đó, Pete viết nhạc ngày càng lên tay và vị trí đứng đầu của Roger bị đe doạ nghiêm trọng, đặc biệt là sau khi Pete cho ra “My Generation”. Bài hát như lời tuyên ngôn cho lối sống của các mods trình diễn bởi tay ca sỹ xài kích thích quá liều, lắp bắp thốt lên rằng “I hope I die before I get old”. Sau khi “My Generation” lọt vô bảng xếp hạng tháng 12/1965, Roger bị “đuổi” khỏi band do lối lãnh đạo đầy bạo lực của anh. Roger đành phải thề là sẽ “là một thành viên hiền hoà” để được chấp nhận trở lại.

Cũng trong thời gian đó The Who phát hành album đầu tay “My Generation”. Tuy nhiên, do Decca tiếp thị kém, Kit và Christ quyết định huỷ hợp đồng với Talmy và chuyển sang Atlantic của Mỹ và Reaction của Anh. Talmy phản đối và kiện The Who làm cho việc phát hành single thứ hai “Substitute” của The Who bị hoãn lại. The Who thua kiện và buộc phải quay lại với Talmy và Decca Records. Vụ này cũng với các vụ đập phá nhạc cụ trong các buổi biểu diễn đã nhấn The Who ngập chìm trong nợ nần.

Kit lại tiếp tục hối thúc Pete viết ca khúc. Trong một lần chơi thử cho Kit nghe, Pete nói đùa là anh đang định viết 1 vở rock opera. Kit rất khoái ý tưởng đó và động viên Pete nhanh chóng hoàn tất. Pete viết thử vở “Quads” nói về một câu chuyện trong tương lai, trong đó có một cặp vợ chồng muốn có 4 đứa con gái, nhưng trong số 4 đứa con của họ lại có 1 đứa là con trai và họ quyết tâm nuôi dạy thằng bé thành 1 cô con gái. Tuy nhiên lúc đó The Who cần gấp rút phát hành một single nên vở rock opera này được rút lại thành 1 ca khúc ngắn tựa là “I’m a boy”.

Trong khi đó Kit muốn ra album để kiếm chác chút đỉnh nên đã thúc giục mỗi thành viên trong nhóm phải viết ít nhất 2 bài cho album đó: Roger chỉ viết nổi mỗi một bài, Keith viết được một ca khúc và một bản hoà tấu. Trong khi đó John viết được 2 ca khúc ngắn là “Whisky man” và “Boris the spider”. Từ đây John – một lão hài hước và châm chọc – trở thành người sáng tác chính cho ban nhạc.

The Who vẫn chưa có đủ ca khúc để cho ra album mới, do vậy Pete đã viết thêm 1 bản mini opera cho album: “A quick one while he’s away”. Đây là câu chuyện về một người đàn bà ngoại tình với tay tài xế tên Ivor trong khi chồng vắng nhà gần 1 năm. Album lấy tên là “A quick one” – lấy theo tên của bản mini opera kia và một chút ẩn ý về sex. Chính vì vậy mà sau khi single “Happy Jack” được phát hành ở Mỹ thì album được đổi tên thành “Happy Jack”. Sau khi giải quyết xong vụ kiện với Talmy và Decca, The Who tiếp tục lưu diễn ở Mỹ, mở đầu là việc tham gia Easter Concerts của DJ Murray The K ở New York. Việc đập phá nhạc cụ trong khi bị cấm tiệt ở Anh thì ở Mỹ lạ được các fan chào đón cuồng nhiệt. The Who ngày càng có nhiều fan Mỹ điên loạn và cuồng nhiệt. Mùa hè năm đó The Who quay lại Mỹ tham gia Monterey Pop Festival ở California, sau liên hoan này The Who được giới hippy San Francisco chú ý, các nhà phê bình rock music bắt đầu quan tâm và The Who lần đầu tiên xuất hiện trên tờ Rolling Stones.

Mùa hè năm đó, The Who cũng chơi mở màn cho Herman’s Hermit. Lần đi tour này Keith được mệnh danh là hellraiser trong buổi sinh nhật lần thứ 21 của mình tổ chức trong một buổi after-show party ở Holiday Inn, Flint, Michigan. Hôm đóbánh sinh nhật tung toé trên sàn, Keith trượt chân ngã gãy 1 cái răng khi đang cố thoát khỏi tay cảnh sát. Sự việc càng thêm tồi tệ khi Keith thoả mãn sự điên loạn và trác táng của mình bằng cách phi cả chiếc Cadillac xuống bể bơi khách sạn. Sau vụ này, The Who bị cấm đến Holiday Inn, và việc đập phá thường xuyên trong các khách sạn đã trở thành một phần huyền thoại thú vị về Keith và The Who.

Trong khi ngày càng được hâm mộ ở Mỹ thì ở Anh sự nghiệp của The Who bắt đầu đi xuống. Single tiếp theo “I can see for miles” trong khi được xếp hạng cao nhất ở Mỹ thì ở Anh chỉ lọt vào bảng xếp hạng tầm tầm. Các single sau đó như “Dogs” và “Magic Birds” còn thảm hại hơn. Album phát hành tháng 12/1967 “The Who sell out” không bán được nhiều như các album trước. Đây là một album concept nói về một chương trình phát thanh bất hợp pháp Radio London của một đài phát thanh nước ngoài. Album này sau này được coi là một trong những album hay nhất của The Who.

Lúc ban nhạc xuống dốc như vậy, Pete từ bỏ ma tuý và tu theo một giáo phái Ấn Độ là Meher Baba. Pete trở thành tín đồ của giáo phái này và các ca khúc sau này của anh phản ảnh rất rõ những gì anh học được trong các giáo điều của Baba. Một trong những ý tưởng đó là “những kẻ tiếp nhận những thứ trần tục thì không được tiếp đòn trên thế giới của Thượng Đế”. Từ đây Pete viết 1 câu chuyện về một cậu bé mù, câm và điếc. Cậu bé đã từ bỏ những nhận thức trần tục, đã gặp được Thượng Đế, cậu được chữa lành bệnh và trở thành một vị cứu tinh. Câu chuyện cuối cùng được cả thế giới biết đến trong “Tommy”. The Who chuẩn bị cho album này từ mùa hè năm 1968 đến suốt mùa xuân năm sau. Và “Tommy” đã đem lại thành công ngoài sức tưởng tượng của bất kì ai!

———————–
* phong cách git “windmilling”: khi đánh gam thay vì để tay một chỗ, Pete quơ cánh tay vòng vòng, đánh rất mạnh vào dây đàn, tương tự như cái cối xay gió, vì thế mà được mệnh danh là “windmilling style”.

Phần II: “Who are you” đến cái chết của Keith Moon

Tommy được phát hành và mới đầu chỉ đạt được thành công tương đối. Tuy nhiên khi được The Who trình diễn trên sân khấu, Tommy trở thành tiêu điểm của show và thực sự đem lại tiếng vang cho The Who, đặc biệt là tại Woodstock Music Festival tháng 8/1969. Hôm đó đỉnh điểm của “Tommy” – “See me, feel me” được biểu diễn lúc gần sáng. Được dựng thành phim và được chiếu trong cuốn “Woodstock”, “Tommy” và The Who làm náo động fan trên khắp thế giới. Kit cũng kiếm ra cách mới để làm ăn, đem “Tommy” và The Who đi lưu diễn khắp các nhà hát kịch ở Châu Âu và New York.

Nhiều vở ballet và hoà tấu đã được phóng tác theo “Tommy”. The Who trở nên quá gắn bó với “Tommy” đến nỗi người ta gọi họ là “Tommy band”. Trong khi đó Pete tiếp tục làm demo và thử cả với ARP synthesizer. Để có thời gian cho kế hoạch sắp tới, The Who ghi âm 1 live album ở Đại học Leeds. “Live at Leeds” trở thành album thứ 2 thành công của The Who.

Cuối 1970, Pete nghĩ ra ý tưởng mới. Trong khi Kit ký hợp đồng làm phim với Universal Studio cho bộ phim “Tommy” mà ông ta hi vọng mình sẽ làm đạo diễn, Pete cặm cụi với ý tưởng về một “Life house”. Đây là một câu chuyện khoa học viễn tưởng về một thế giới ảo trong đó một cậu bé đã khám phá ra rock music. Người hùng này đã chơi một bản nhạc vô tận và cuối cùng đã tìm được “the lost chord” và được lên Nirvana. Pete và The Who cũng tham gia đêm nhạc ngoài trời ở Young Vic theater, Luân Đôn. Khi người ta quay phim band biểu diễn, khán giả hết ra lại vô trong khi họ chính là một phần của bộ phim. Thế là bộ phim đành phải đuwọc hoàn tất bằng kĩ sảo vi tính. Tuy nhiên, kết quả chẳng mấy khả quan. Khán giả chỉ ghé xem mặt mũi The Who ra sao, số còn lại thì nhanh chóng tỏ ra chán ngán.

Pete tiếp tục kế hoạch của mình và The Who chuyển qua ghi âm ca khúc Pete mới viết cho “Life house”. Các ca khúc này sau đó được phát hành trong album “Who’s next”. Album này cũng lọt được vào bảng xếp hạng và được một số fan đánh giá là album hay nhất của The Who, 2 ca khúc trong album là “Baba O’ Riley” và “Behind blue eyes” cũng được phát liên tục trên radio.

Tuy ngày càng nổi tiếng, các thành viên của The Who vẫn các sáng tác của Pete khoả lấp, và John là người đầu tiên bắt đầu sự nghiệp solo với album “Smash your head against the wall”. Album này được phát hành ngay trước “Who’s next”. John tiếp tục làm solo cho đến đầu những năm 70, đây là dịp để anh thể hiện óc hài hước và châm biếm của mình. Roger cũng chuyển sang solo sau khi biến nhà kho của mình thành một studio. Album “Daltrey” chỉ thua single “Giving it all away” trong top ten British và mang lại tiếng nói cho anh trong ban nhạc – vị trí anh không còn nắm giữ kể từ khi fải năn nỉ để được ở lại band hồi cuối năm 1965.

Roger với quyền lực mới của mình đã mở cuộc điều tra về việc quản lý tài chính của Kit và Christ. Anh phát hiện ra là họ đã ăn lẹm lợi nhuận của The Who hàng mấy năm nay và anh tìm cách huỷ hợp đồng với 2 tay quản lý này. Trong khi đó, Pete lại coi Kit là cố vấn nghệ thuật của mình nên đã bênh vực cho ông này. Việc này dẫn tới những rạn nứt trong ban nhạc.

Lúc này Pete bắt đầu làm vở rock opera mới về lịch sử của band. Tuy nhiên, sau khi gặp lại Irish Jack, người đã theo chân họ từ hồi còn là Detours, Pete chuyển vở rock opera này thành 1 câu chuyện về một fan của The Who. Câu chuyện nói về Jimmy, một mod fan của The High Numbers năm 1964. Anh này phải làm những công việc bẩn thỉu để kiếm tiền mua một chiếc GS motor scooter, quần áo kiểu mod và chất kích thích để dùng trong những ngày cuối tuần. Việc sử dụng chất kích thích quá nhiều làm cho con người anh chịu ảnh hưởng của 4 kiểu tính cách, mỗi kiểu tính cách được đại diện bởi một thành viên của The Who. Cha mẹ anh phát hiện ra anh dùng chất kích thích và đuổi anh ra khỏi nhà. Anh đén Brighton để sống những ngày rực rỡ với giới mod nhưng lại phát hiện ra người mod đứng đầu lại chỉ là một anh hầu bàn quèn. Trong nỗi tuyệt vọng, anh chèo thuyền đến mỏm đá ngoài biển khơi trong một cơn bão dữ dội và ở đó anh đã gặp được Chúa (“Love, Reign O’er Me”).

“Quadrophenia” gặp phải một số rắc rối ngay sau khi ghi âm. Album cần được mix với hệ thống âm thanh nổi 4 đường vào nhưng phòng thu của họ không đủ hiện đại, 1 lần mix 3 chiều thì nhạc lại lấp tiếng vocal, điều này khiến Roger rất lo lắng. Trên sân khấu The Who cố gắng tái tạo âm thanh đó bằng cách mở backing tape. Tuy nhiên, băng chạy ko ăn nhập dẫn đến một mớ âm thanh hỗn độn… thêm vào đó là việc vợ của Keith Moon đem theo con gái bỏ anh đi ngay trước khi anh đi lưu diễn khiến anh đắm chìm trong rượu chè và bất cứ thứ gì anh vớ được để quên đi nỗi buồn khổ. Tại một show ở San Francisco, trong tour US mở rộng, Keith đã bỏ đi giữa chừng và được thay thế bởi 1 khán giả tên Scott Halpin.

Về tới Luân Đôn, Pete không có phút nào ngơi nghỉ. Việc sản xuất bộ phim về vở “Tommy” ngay lập tức được tiến hành. Quản lý sản xuất bộ phim không còn là Kit Lambert nữa mà đã được chuyển sang cho nhà làm phim người Anh Ken Russel. Russel đã biến “Tommy” thành một bộ phim hoạt hình lấp lánh những ngôi sao như Elton John, Eric Clapton, Tina Turner, Ann Margaret và Jack Nicholson. Bộ phim trở nên quá màu mè và làm The Who fans thất vọng. Tuy nhiên bộ phim lại được công chúng đón nhận một cách háo hức. 2 hệ quả tiếp theo đó là: ngoài việc là leader của ban nhạc, Roger cũng thành công với sự nghiệp solo của mình, điều này mang lại cho anh một lực đẩy để tiến xa hơn thời kì 1965; còn Pete rơi vào tình trạng suy sụp thần kinh và ngày càng uống nhiều rượu.

Ban nhạc rơi vào tình trạng khủng hoảng, khởi đầu là tại đêm nhạc ở Madison Square Garden tháng 6/1974, khán giả la ó đòi Pete “nhảy” nhưng anh nhận thấy mình không còn hứng thú với những điều này nữa. Niềm đam mê được biểu diễn cùng The Who trong anh đã bắt đầu mờ nhạt. Đó là lý do album tiếp theo của ban nhạc “The Who by Numbers” mang nặng tâm trạng cay đắng và đen tối của tâm hồn Pete. Trước khi album này được phát hành, Pete và Roger cũng đã có một trận cãi nhau kịch kiệt trên báo chí âm nhạc của Anh.

Tuy nhiên, các chuyến lưu diễn tiếp theo trong 2 năm 1975 và 1976 lại có vẻ thành công hơn chính album này. Các sáng tác mới được thể hiện với phong cách trước đây của ban nhạc. Và sau một đêm diễn ồn ã, Pete cứ nghe ong ong trong tai liên tục. Bác sỹ kết luận anh bị chứng ù tai và sẽ bị điếc nếu anh cứ tiếp tục các chuyến lưu diễn.

Sau 1976, The Who cũng đã ngừng các tour của mình. Việc cuối cùng phải làm là cắt đứt hẳn với hai lão quản lý cũ. Đầu 1977, Pete đã kí những giấy tờ cuối cùng chấm dứt quan hệ với Lambert và Stamp. Pete vội vã rời cuộc họp chỉ để chạy đến bù khú với 2 thành viên của Sex Pistols, 1 hiện tượng punk mới nổi và chính band này sau đó đã đè bẹp tên tuổi của The Who. Hôm đó Pete say bí tỉ, nằm sõng soài trên lối đi và cảnh sát phải tới nhắc nhở.

“Sự kiện” này được đưa vào ca khúc “Who are you”, đây cũng là tựa cho album tiếp theo của The Who. Ban nhạc trở lại phòng thu sau 2 năm đầy biến động. Cùng với việc ghi âm album mới. The Who tiến hành dựng một bộ phim về lịch sử ban nhạc, phát hành với tên “The kids are alright”. The Who thậm chí mua hẳn Shepperton Studios để thực hiện bộ phim này. Tuy nhiên, khi Keith từ Mỹ về, anh trong tình trạng cực kỳ thảm hại: béo phì, nghiện rượu và trong già hơn chục tuổi so với tuổi thật là 30.

The Who hoàn tất album và bộ phim mới của mình năm 1978 với 1 buổi biểu diẫn tại Shepperton cùng các fans của mình vào ngày 25/5/1978. 3 tháng sau album này được phát hành rộng rãi. 20 ngày sau đó, vào ngày 7/9/1978, Keith Moon chết do dùng thuốc quá liều – loại thuốc anh được chỉ định để cai rượu!

Phần III: Từ khi Kenny John gia nhập band đến nay

Nhiều người nghĩ The Who hẳn phải giải nghệ sau cái chết của Keith Moon nhưng lúc đó ban nhạc đang thực hiện rất nhiều dự án. Bên cạnh bộ phim “The Kids Are Alright”, 1 bộ phim dựa trên “Quadrophenia” đang sắp sửa phát hành. Đến tháng 1/1979 The Who bắt đầu tìm kiếm tay trống mới. Họ tìm ra Kenney Jones (sinh ngày 16/9/1948). Anh này là tay trống cũ của The Small Faces và cũng là bạn của Pete và John. Phong cách của Kenney khác hẳn Keith do vậy mà anh bị rất nhiều fan của The Who phản đối. The Who tuyển thêm “Rabbit” Bundrick vào chân keyboards và ban nhạc cũng tuyển thêm “bộ phận” kèn.

Mùa hè và mùa thu năm đó The Who tiếp tục đi tour ở Mĩ và đã thu hút được một lượng khán giả khổng lồ. Thế nhưng bi kịch đã xảy ra. Tháng 12/1979 tại buổi biểu diễn ở Cincinnati 11 fans đã bị chết do chen lấn. The Who phải huỷ hầu hết các chuyến lưu diễn của mình. Họ quyết định sẽ tiếp tục sau một thời gian ngắn. Tuy nhiên sự kiện trên vẫn còn ám ảnh rất nhiều người.

Năm 1980 khởi đầu với 2 dự án solo. Pete phát hành album solo đầu tiên của mình “Empty Glass”. Album này được chào đón nồng nhiệt không kém gì các album trước của The Who và single “Let my love open the door” đã được lọt vào bảng xếp hạng. Cùng thời gian này Roger phát hành “McVicar”, một bộ phim hấp dẫn trong đó anh vào vai 1 tên cướp nhà băng thực thụ.

Tuy nhiên cuối năm đó, Pete vấp phải rất nhiều rắc rối. Anh hầu như lúc nào cũng say xỉn, trên sân khấu thì hoặc là phun ra những tràng chửi rủa hoặc là gẩy những câu solo vô tận. Sau rượu bia là đến cocaine rồi heroin. Anh bắt đầu party suốt đêm ở Luân Đôn với đám “new wave” mới xuất hiện – những kẻ coi anh là một vị thánh.

Pete bị chỉ trích nặng nề sau khi album tiếp theo của The Who “Face Dances” được phát hành. Mặc dù single “You’re better, you bet” được lọt vào bảng xếp hạng nhưng album này vẫn bị đánh giá là kém hẳn so với các album trước và một vài bài còn nghe có vẻ như được làm lại từ những bản còn sót lại lúc Pete làm album “Empty Glass”.

Roger nhận thấy Pete đang tự huỷ hoại mình và anh sẵn sàng ngừng các chuyến lưu diễn để cứu lấy mạng sống của Pete. Pete đã suýt mất mạng trong một lần dùng heroin quá liều tại Club For Heroes ở Luân Đôn và thoát chết trong gang tấc ở bệnh viện. Cha mẹ anh đã gây áp lực và Pete buộc phải đến California để cai rượu và ma tuý.

Khi trở về Pete vẫn còn hơi “mơ màng”, thiếu tự tin vào khả năng sáng tác của mình và đành phải hỏi ý kiến các thành viên khác về ý tưởng cho các ca khúc mới. Ban nhạc nhất trí là album mới sẽ phản ánh mối lo ngại của họ về căng thẳng ngày càng gia tăng của Chiến Tranh Lạnh. Album này mang tên “It’s hard”. Một phần nội dung album này cũng nói đến sự thay đổi về vị trí của đàn ông trong cuộc cách mạng nữ quyền. Tuy nhiên các nhà phê bình cũng như rất nhiều fans của The Who đánh giá album này chẳng khá hơn “Face Dances” tẹo nào.

Tháng 9/1982 tour diễn qua Mĩ và Canada được quảng cáo là tour “chia tay” của ban nhạc. Sau chuyến lưu diễn này The Who dự tính phát hành album cuối cùng để hoàn tất hợp đồng. Pete bắt đầu viết “Siege” nhưng lại nhanh chóng từ bỏ. Anh họp ban nhạc và thông báo minhf không “đủ sức” sáng tác cho band nữa. Sau khi kết thúc hợp đồng ghi âm trước thời hạn vào ngày 16/12/1983 tại một cuộc họp báo Pete tuyên bố The Who tan rã.

Cũng như các thành viên khác của ban nhạc, Pete bắt đầu cuộc sống mới với công việc tại nhà xuất bản Faber&Faber. Công việc không mất nhiều thời gian và Pete có điều kiện để thực hiện một chiến dịch chống sử dụng heroin trong suốt những năm 80. Anh cũng có thời gian để viết một tập truyện ngắn mang tên “Horses’ neck” và làm một bộ phim ngắn về cuộc sống của những người xây dựng “White City”. Bộ phim “White City” này có sự góp mặt của một ban nhạc mới “Defor” do chính Pete lập với tay kèn, keyboards và backup singers. Anh cũng phát hành live album & video “Deep End Live”.

Chẳng bao lâu sau đó, vào ngày 13/7/1985 The Who tái hợp và biểu diễn tại buổi hoà nhạc từ thiện Live Aid do Bob Geldof tổ chức nhằm giúp đỡ người dân Ethiopia. Trong buổi diễn này The Who định chơi sáng tác mới của Pete “After the fire” nhưng do chưa tập luyện kĩ nên band đành phải chơi những ca khúc cũ của mình. Tuy nhiên sau đó “After the Fire” trở thành solo hit của Roger.

Cuối những năm 80 Roger và John tách ra và bắt tay vào thực hiện các dự định riêng. Bên cạnh việc đóng phim và tham gia các chương trình truyền hình, năm 1985 Roger còn làm một tour solo. Năm 1987 John cũng đi lưu diễn. Họ biểu diễn ở những sân khấu nhỏ và vẫn tiếp tục nhận được sự ủng hộ của các fans trung thành của The Who. Thang 2/1988 The Who lại tái hợp để nhận giải thưởng BPI Life Achievement Award. Sau lễ trao giải tại Royal Albert Hall là một chương trình biểu diễn ngắn của band.

Sau đó Pete bắt tay vào viết một vở rock opere mới dựa theo cuốn truyện thiếu nhi “The Iron Man” của Ted Hughes. Bên cạnh một vài ngôi sao khác Pete cũng mời thêm Roger và John tham gia 2 ca khúc trong album. 2 ca khúc này được ghi chú là của ban nhạc The Who. Sau lần tái hợp này Pete đã thuyết phục được cả band làm một tour vào mùa hè 1989.

Đây là tour diễn kỉ niệm sinh nhật lần thứ 25 của ban nhạc. Tuy nhiên họ xuất hiện với một phong cách hoàn toàn khác so với thời kì mới thành lập năm 1964. Pete chuyển sang chơi acoustic và một tay khác lead. Hầu hết các thành viên của nhóm “Deep End” cũng tham gia biểu diễn trong đó có một drummer mới và một percussionist (bộ gõ). Tại Los Angeles lần đầu tiên kể từ năm 1970 “Tommy” được The Who trình diễn hoàng chỉnh với sự góp mặt của rất nhiều ngôi sao như Elton John, Phil Collins, Billy Idol…

Sau sô này The Who lại “biến mất”. Nhưng “Tommy” thì không. Pete cùng với đạo diễn sân khấu người Mĩ Des McAnuff viết lại vở rock opera này thành một vở ca kịch có thêm rất nhiều sự kiện trong chính cuộc đời Pete. Sau nhiều lần tập dượt ở sân khấu kịch La Jolla, California, “The Who’s Tommy” chính thức được trình diễn ở sân khấu Broadway ngày 23/4/1993. Các fans phản ứng rất khác biệt. Tuy nhiên các nhà phê bình sân khấu New York và Luân Đôn lại đánh giá cao. Và “The Who’s Tommy” đã đem lại cho Pete cả 2 giải thưởng Tony và Laurence Olivier Awards.

Theo đà đó Pete tiếp tục viết một vở opera mới mang nhiều chất tự sự “Psychoderelic” kể về 1 ngôi sao nhạc rock ẩn dật, sự nghiệp tàn lụi vì tay quản lý gian xảo và tên nhà báo bẻm mép. Mặc dù đã có 1 tour solo ở Mĩ nhưng album mới này vẫn không bán chạy.

Đầu năm 1994 Roger tạm ngưng đóng phim để tổ chức buổi hoà nhạc kỉ niệm sinh nhật lần thứ 50 của mình tại Carnegie Hall với sự tham gia của một rock band và dàn nhạc đã thể hiện lại các sáng tác của Pete. Hôm đó rất nhiều khách mời đã trình diễn các ca khúc của Pete, thậm chí John và Pete cũng lên sân khấu (mặc dù không cùng lúc). Sau đó Roger và John cùng lưu diễn ở Mĩ cùng với anh trai của Pete là Simon – guitar và con trai của Ringo Starr là Zac Starkey – drum, chơi lại các ca khúc của The Who.

Cũng mùa hè năm đó tuyển tập 4 CDs của The Who được phát hành với các ca khúc đã được MCA remix và remaster.

Mặc dù có rất ít hoạt động nhưng The Who cũng nhận được sự ủng hộ của các fan. Tháng 9/1995 một hội nghị về The Who được tổ chức ở Luân Đôn với sự tham gia của Roger, John cùng những người có liên quan đến lịch sử của The Who. Năm 1996 khởi đầu tốt đẹp với những chuyến lưu diễn ở Mỹ của ban nhạc mới của John là John Enwhistle band tại các sân khấu nhỏ. Sau các buổi diễn nhóm cũng bán CD mới The Rock và các thành viên có buổi giao lưu với fans.

Một sự kiện đầy ngạc nhiên cũng đã diễn ra. Vào tháng 4/1996 The Who thông báo tái hợp để trình diễn lại “Quadrophenia” trong 1 buổi hoà nhạc tại Hyde Park. Buổi diễn được tổ chức vào ngày 26/6 với sự kết hợp giữa các ý tưởng của Pete với Deep End 1989 và band 1994 của Roger. họ dự định chỉ diễn 1 show duy nhất ở Hyde Park nhưng 3 tuần sau đó lại tổ chức thêm ở Madison Square Garden, New York và vào tháng 10 trong tour Bắc Mĩ. Show này được thực hiện với tên tuổi của từng thành viên riêng lẻ nhưng các fans vẫn coi đó là The Who.

Chuyến lưu diễn kéo dài đến mùa xuân 1997 qua Châu Âu và tiếp theo là 6 tuần ở Mĩ.