Progressive Rock P.1: Những khái niệm cơ bản

Thế nào là Prog? Đây vẫn là một câu hỏi được xoay quanh, đề cập đến trong suốt gần 4 thập kỉ kể từ khi xuất hiện khái niệm về Prog. Tôi đã từng thấy có dăm bài viết tại một số forum về định nghĩa của Prog nhưng hầu hết đều rất sơ sài, sai lệch và nghèo nàn. Vì vậy để bắt đầu, xin được đặt ra những vấn đề cơ bản về Prog & lịch sử của nó.

I. Foreword: What TF is Progressive (Prog)?

Ngay cả 1 học giả uyên bác cũng khó có thể định nghĩa được progressive rock 1 cách rõ ràng. Rất nhiều người đã cố gắng thử, & cũng đã thành công ít nhiều. Nhưng sau cùng thì, mỗi người trong số chúng ta đều có khái niệm riêng về progressive rock. Bản chất con người là như thế. Vậy, progressive rock là gì???

Progressive rock (prog rock) là 1 phong trào âm nhạc phổ biến tại châu Âu. Phong cách của nó chịu ảnh hưởng rất lớn từ nhạc cổ điển & jazz. Điều này trái ngược hoàn toàn với rock Mĩ: rock Mĩ chịu tác động của R&B và nhạc country là chính. Trải qua năm tháng, progressive rock đã sản sinh ra nhiều nhánh nhỏ hơn, ví như symphonic rock, art rock, neo progressive và progressive metal. Xét thấy, ta có thể định nghĩa nhạc prog nói chung trong 2 chữ: tiến bộ & cách tân. Nhạc prog đem đến 1 phong cách sáng tác hoàn toàn mới lạ, khác hẳn với những khuôn khổ rock trước kia. Cụ thể, khuôn mẫu sáng tác verse/chorus/verse/chorus dài vỏn vẹn 3 phút đã bị gạt ra rìa. Thay vào đó là những bản nhạc phức tạp, du dương dài từ 6 – 20 phút, những nhạc cụ mới (guitar điện, vĩ cầm, sáo, v.v…), và những loại keyboard (đàn mellotron, synthesizer, piano, organ, etc.). Những yếu tố này kết hợp lại đã tạo nên những cuộc phiêu lưu âm nhạc kì thú, gợi nhớ cho thính giả về những làn điệu nhạc jazz & nhạc cổ điển. Những ảnh hưởng sâu sắc từ nhạc cổ điển sau này sẽ cho ra đời thể loại symphonic progressive (prog giao hưởng).

Nhạc prog thường có cấu trúc phức tạp. Những bản nhạc không lời sâu lắng, nghệ thuật trình diễn lão luyện, cộng với kĩ thuật technical vào loại bậc thầy & những đoạn solo truyền cảm, đó là những gì chúng ta có thể thấy ở nhạc prog. 1 ví dụ điển hình là bài Echoes dài 23 phút của Pink Floyd, hay Close to the Edge dài 18 phút của Yes & Supper’s Ready (23 phút) của Genesis. Do không bị ép buộc phải sử dụng khuôn mẫu truyền thống (đã đề cập bên trên) nên các nghệ sĩ có thể hòa hợp vào trong nhạc của mình những luồng nhạc cổ điển, jazz, traditional – & những ảnh hưởng văn hóa 1 cách tự do hơn.

Luồng nhạc prog này phát triển chủ yếu tại Anh trong cuối thập niên 60, & tách dần khỏi cội nguồn rock & blues truyền thống để khám phá nhạc Âu với 1 tầm nhìn bao quát hơn. Cũng giống như tất cả các thể loại khác, prog rock cũng có các nhánh ngầm, được định nghĩa dựa theo cách thức các nghệ sĩ vận dụng luồng nhạc mới này. Tuy nhiên, nếu muốn phức tạp hóa vấn đề thì sau rốt ta có thể định nghĩa được vô số những nhánh ngầm của prog. Vì vậy, để tránh phiền phức, ta chỉ liệt kê những nhánh lớn: experimental (Soft Machine, King Crimson), psychedelic (Pink Floyd), theatrical (Genesis), traditional (Emerson, Lake & Palmer), symphonic (Yes, Camel, Gentle Giant), và art rock/pomp rock trong thập niên 70 (Supertramp). Ngoài ra còn có trường phái Canterbury School (Caravan, Gong), hợp thể jazz – jazz fusion (Brand X, Frank Zappa), progressive rock Italy (Banco del Mutuo Soccorso, Le Orme, PFM), prog Đức (Floy – space rock, Amon Duul II – krautrock, Tangerine Dream, R.I.O. Henry Cow – prog electronics và Magma – zheul). Ngoài ra còn có prog không lời – instrumental prog (Mike Oldfield), prog folk (Jethro Tull, Renaissance, The Strawbs), prog hard progressive (Rush), neo-prog (Marillion, Arena, Pendragon) và prog metal (Dream Theater, Ayreon, Pain of Salvation).

II/ Những đặc điểm âm nhạc cơ bản của Progressive Rock

Thực sự là hầu như không có một yếu tố âm nhạc riêng lẻ cụ thể nào được dùng để định nghĩa hay được xem như là prog rock. Tuy nhiên, vẫn có một số khuynh hướng đáng chú ý, khá phổ biển (dù không phải là toàn cầu) – gần như là đặc trưng cho prog rock – sau:

1. Các sáng tác dài: đôi khi là hơn 20’, với giai điệu phức tạp nhưng rất hài hoà và cân đối. Các tác phẩm này thường được mô tả như những khúc ca epic (sử thi, trường ca..) và thể hiện sự nhất quán, gần gũi nhất của thể loại này với nhạc cổ điển. Những tác phẩm cũ thuộc loại này (xem như là những ca khúc có sự liên hợp giữa các part – xuất hiện đầu tiên của prog rock) là In Held Twas In l của Procol Harum (17’30”). Echoes (23’) của Pink Floyd; Supper’s Ready (23’) của Genesis; Thick As A Brick (44’) của Jethro Tull và Tales From Topographic Oceans của Yes – 1 album vỏn vẹn 4 bài hat. Những ví dụ gần đây có thể kể đến 6 Degrees of Inner Turbulence (47′) của Dream Theater, Cassandra Gemini (33’) của The Mars Volta; hoặc Catch 33 (47’) của Meshuggah

2· Bên cạnh các sáng tác dài, rất nhiều ca khúc prog lại được chia thành các phần ngắn mà thường (ko phải luôn luôn) có thể nhận ra ngay trên tracklist. Trong một vài trường hợp, mỗi phần đó lại là một ca khúc riêng lẻ. Thông thường các ca khúc được chia theo thứ tự và sắp xếp theo kiểu 1 tổ khúc cổ điển. Ví dụ Close to the edge của Yes chia làm 4 phần; Thick As A Brick của Jethro Tull chia làm 2, 2112 của Rush chia làm 7: Shine On You Crazy Diamond của Pink Floyd lại chia làm 9 (!) dài hơn 20′; Octavarium của Dream Theater chia làm 8 và dài tới 23′

3· Lời bài hát được truyền tải – có nội dung rất phức tạp, thâm chí đôi khi là gần như không thể hiểu được – mang chủ đề về khoa học viễn tưởng (sci-fi), ảo giác ảo tưởng (fantasy), lịch sử, tôn giáo, chiến tranh, nội tâm, tư tưởng..và văn học. Các bài hát ProgRock hiếm khi có chủ đề về tình yêu – trừ khi là các bài hát có nội dung gắn kết mở rộng theo ý đồ của tác giả – và thực tế là không bao giờ có những đối tượng hướng tới giống như âm nhạc đại chúng (popular music). Hầu hết các ban nhạc ProgRock đều tránh đề cập trực tiếp hay có ý bình luận vè chính trị mà họ thường ra đưa chủ đề và tư tưởng album một cách kín đáo bằng lối biểu đạt phúng dụ, hàm ngôn – ví dụ như album Selling England By The Pound của Genesis có nội dung trói buộc bởi chủ đề về sự đấu tranh giữa chủ nghĩa thương mại và chủ nghĩa tự nhiên. Tuy nhiên cũng có ngoại lệ như trường hợp của Pink Floyd với album The Final Cut – đã phê phán một cách mơ hồ Thatcherite Britain.

4· Concept Albums: là một album có một chủ đề thống nhất toàn bộ hoặc là một câu chuyện được diễn giải xuyên suốt album hoặc một series các albums. Đôi khi chúng được diễn đạt theo hình thức giống như một bộ film hay một vở kịch – thường được gọi là “rock operas” (nhạc-kịch rock) (định nghĩa này phát triển bởi The Who – dù rằng ban nhạc này thường không được coi là một band Progressive Rock). (Vào những năm mà chất dẻo mới phát triển, các concept album được ghi làm 2 bản record với một cover box được thiết kế rất đẹp và bắt mắt ). Những ví dụ các concepts nổi tiếng gồm của Genesis; series các concepts của Pink Floyd khởi đầu từ Dark Side Of The Moon. Gần đây ta có Operation Mindcrime của Queensryche, Metropolis II Scenes From A Memory của Dream Theater hay tuyệt phẩm Testimony của Neal Morse

5· Sử dụng rất nhiều loại nhạc khí thường ko được đem vào trong rock, bao gồm cả dàn phối nhạc điện tử cũng như một số phong cách vocal khác thường. Có lẽ ví dụ nổi tiếng nhất có thể kể tới là cây sáo cực kì quyến rũ của frontman Ian Anderson của Jethro Tull. Các loại Keyboard như Sythesizer, organ, piano, và thậm chí là cả Mellotron rất thông dụng trong Prog Rock, nhưng lại rất hiếm khi thấy trong các thể loại rock khác. Một ví dụ nữa có thể đưa ra là ta có thể bắt gặp các các nhạc cụ nhạc khí ko phải xuất phát từ phương tây trong prog rock (đặc biệt một số loại hình percussion.). Gentle Giant là ban nhạc nổi tiếng nhất với kiểu vocal đặc trưng, dù cũng có rất nhiều prog-singer bên cạnh đó như Peter Hammill của VDGG có phong cách hát khá kì lạ.!… Một điều khá ngạc nhiên là trong những năm tháng cực thịnh của prog rock, việc sử dụng dàn nhạc giao hưởng cùng dàn đồng ca khá hiếm trong phạm vi các band prog nổi tiếng. Thay vào đó Mellotron thường được sử dụng để giả tiếng hợp âm đàn dây. Nhưng một band nhạc ít nổi tiếng hơn, Renaissance, vào thời điểm ấy, đã sử dụng 1 dàn nhạc thực sự một cách vượt xa cả những khuôn khổ thông thường.

6· Sử dụng tiết tấu / nhịp phức tạp / kĩ thuật rhythm / gam / tông nhạc và giai điệu bất thường, thậm chí đôi khi kì quặc. Có sự phối hợp đồng đều và cùng lúc của nhiều tiết tấu với từng nhạc cụ (Thela Hun Ginjeet của KC, có những đoạn mà các thành viên người chơi nhịp 7/8, người chơi 4/4 tạo nên những hiệu quả về sự thiếu cân bằng trong âm nhạc).

7· Những âm thanh vang, xa, cao và rộng xen lẫn với những đoạn rất nhỏ/im lặng hoặc lại rất ầm ĩ sắp xếp cùng trong một phần âm nhạc. Việc sử dụng công nghệ nén để giảm bớt các hiệu ứng này ít thông dụng trong các loại hình rock khác· Có những đoạn solo riêng cho từng loại nhạc khí (số các nhạc cụ nhạc khí này đôi khi có thể rất nhiều). Những nghệ sĩ đã góp phần tạo tiếng tăm cho hình thức này có thể kể đến tay guitar Steve Howe, 2 keyboardists Rick Wakeman và Keith Emerson, và tay trống Neil Peart.

8· Kết hợp cả các tác phẩm/một phần các tác phẩm cổ điển vào trong album. Ví dụ Emerson,Lake & Palmer đã thể hiện sự sắp xếp khéo léo các đoạn trích của các nhạc sĩ cổ điển như Copland, Bartok, Moussorgsky , và sử dụng rất nhiều các trích đoạn của J.S.Bach vào những khúc lead. Đôi khi các đoạn trích này được thể hiện như một phần rất quan trọng hoặc đặc biệt – Jethro Tull đã ghi âm một phiên bản của Boure’e (của Bach) mà trong đó, họ đã biến nó thành một bản nhạc “jazz lộn xộn – được chơi trong các hộp đêm” (theo lời của Ian Anderson)

9· Có sự gắn kết đầy tính thẩm mỹ giữa âm nhạc với các loại “nghệ thuật hữu hình” (visual art – một lớp nghệ thuật gồm vẽ, điêu khắc, film, nhiếp ảnh.và một số khác – tập trung vào các sáng tạo nghệ thuật mang hình ảnh có thực trong thiên nhiên). Xu hướng này khởi xướng bởi Beatles (với Sgt. Pepper’s Lonely Hearts Club) và được hưởng ứng nồng nhiệt vào thời kì cực thịnh của ProgRock. Một số band trở nên nổi tiếng vì sự kết hợp phát triển nghệ thuật trong album với những covers đẹp kì lạ của họ không kém sự nổi tiếng về âm nhạc của họ. Và với cách nhìn tổng thể cả nghệ thuật phối hợp + âm nhạc của 1 band ta có sự kết hợp thành một phong cách âm nhạc đặc trưng cho ban nhạc đó. Trong số những nghệ sĩ nổi tiếng về thiết kế thuộc nhóm này, đáng chú ý nhất là Roger Dean với những tác phẩm cho YES, Storm Thorgerson với studio Hipgnosis (làm việc với Pink Floyd).

10· Sự tráo đổi, giúp đỡ, phối hợp các thành viên của các ban nhạc khác nhau: có khuynh hướng là các thành viên của ban nhạc có thể tách ra làm những side project riêng với sự tham gia (do lời mời) của các nhạc công từ các ban khác hoặc thành viên của ban nhạc này tham gia vào một album của một ban nhạc khác. Ví dụ: Jon Anderson của YES hát trong một album của King Crimson; Robert Fripp của King Crimson chơi trong 2 album của Van Der Graaf Generator. ….

III/ Lịch sử Progressive Rock – thăng trầm qua các thời kì.

Progressive rock (1967 – hiện tại)
Nhìn chung lịch sử prog rock được chia làm 3 giai đoạn, hay còn gọi nôm na là 3 đợt (waves), kể từ khi nó đc chính thức xuất hiện vào cuối năm 1967, tính đến nay là gần tròn 40 năm tồn tại. Giai đoạn thứ nhất bắt đầu từ năm 1970 & kết thúc năm 1979. Giai đoạn 2 từ 1980 đến 1989 & giai đoạn 3 từ 1990 đến thời điểm hiện tại. Chúng ta hãy tìm hiểu sâu hơn:

Trước thềm prog / tiền sử (1967 – 1969)
Giai đoạn này được đánh dấu bởi album *suýt nữa thì prog* đầu tiên trong lịch sử. Vâng, đó chính là Frank Zappa & the Mothers of Invention với album Freak Out, nguyên tác năm 1966. Đây chính là công trình rock phức tạp đầu tiên. Ẩn chứa trong đó là những lời nhạo báng nhạc pop, là sự nghịch tai, là tinh thần tiên phong, là những ấn tượng kì quái, & trên hết, là những tiết tấu không thể lường trước. Tất cả hợp lại đã tạo nên Freak Out của Frank Zappa, 1 tác phẩm đã đập tan tất cả các thông lệ âm nhạc phổ biến từ trước đến giờ.
Bên cạnh Freak Out, chúng ta còn có:

– Sergeant Pepper’s Lonely Hearts Club Band (The Beatles – 1967)
– Days of Future Passed (The Moody Blues – 1967)
– The Piper at the Gates of Dawn (Pink Floyd – 1967)
– A Whiter Shade of Pale (Procol Harum – 1967)
– Caravan (Caravan – 1968)
– The Cheerful Insanity of Giles Giles & Fripp (Giles Giles & Fripp – 1968)
– Ars Longa Vita Brevis (The Nice – 1968)
– Volume 2 (The Soft Machine – 1969)
– The Least We Can Do is Wave to Each Other (Van Der Graaf Generator/Peter Hammill – 1969)

Tuy không thể được coi là những sản phẩm của prog rock, những tác phẩm trên vẫn là những album đầu tiên của art rock, hay còn được gọi là những “cuộc thử nghiệm” (experiment) đầu tiên nhằm đưa nghệ thuật nhạc rock đến 1 tầm cao mới. Bằng cách thí nghiệm với nhạc điệu mới, với các thiết bị điện tử, với những nhạc cụ hiện đại, những kĩ thuật studio tân tiến, và nhất là qua việc “nhập khẩu” những làn điệu & í tưởng từ rất nhiều trường phái âm nhạc khác nhau trên thế giới, những nhóm nhạc này đã mở cho 1 làn sóng nhạc rock mới, tiến bộ hơn, nhưng đôi lúc cũng gây ra những sai sót đáng tiếc hơn.
(Elderaine@anotherworldofrock)