Progressive Rock P.2: Giai đoạn đầu (1970–1979) – kỉ hoàng kim

Trong khi The Beatles được tôn vinh là “những người hùng của giai cấp công nhân” thì nhiều nhạc sĩ lại xuất thân từ các gia đình trung lưu hoặc hạ trung lưu. Họ được huấn luyện chơi nhạc cổ điển, và được giáo dục ở các trường đại học, cao học. Và họ sẵn sàng sáng tác rock theo phong cách riêng của mình. Trong những năm cuối cùng của thập niên 60, những nhóm nhạc Anh bắt đầu phá vỡ những khuôn khổ được áp đặt lên họ bởi nền công nghiệp âm nhạc. Họ muốn có sự khác biệt, mà những bài hát ngắn ngủn dài có 3 phút với verse & chorus lại không thể làm được điều này. Thế là 1 bộ phận chuyển hướng sang psychedelic rock; 1 số khác đi theo chân The Beatles; 1 số lại trở thành cha đẻ của trường phái metal (Black Sabbath). Họ đã chọn phương pháp dung hợp rock, nhạc cổ điển, folk, jazz, nhạc điện tử, nhạc hiện đại, trung đại & nhiều thể loại khác. Họ quyết định bỏ rơi cấu trúc couplet/refrain nhằm tìm kiếm sự tự do ẩn chứa trong các nhạc điệu phức tạp hơn.

Jerry Lucky, tác giả cuốn Hồ sơ progressive rock, điểm 1 số yếu tố tạo nên progressive rock như sau: “bài hát dài hơn, nhịp độ biến đổi khôn lường, có sử dụng dàn giao hưởng & những từ như cosmic hay philosophical, v.v…” Đây chính là những nhân tạo nên prog rock trong thời kì đầu.

Ngày 10 tháng 10 năm 1969 được đánh dấu là ngày đầu tiên trong lịch sử prog rock thực sự, khi album In the Court of the Crimson King của ban nhạc King Crimson đã đập tan tất cả những qui ước từ cổ chí kim trong làng nhạc rock. Album đầu tay này của King Crimson đã hòa hợp nhạc psychedelic với nhạc giao hưởng, điện tử, jazz, mellotron, kĩ thuật studio mới, và đôi chỗ còn điểm thêm cả metal & folk, để tạo nên 1 thứ nhạc prog rock già dặn & cực kì táo tợn.

King

Track Listings

1. 21st Century schizoid man Mirrors (7:20)
2. I talk to the wind (6:05)
3. Epitaph (8:47)
a) March for no reason
b) Tomorrow and tomorrow
4. Moonchild (12:11)
a) The dream
b) The illusion
5. The court of the crimson king (9:22)
a) The return of the fire witch
b) The dance of the puppets

Total Time: 43:45
Line-up/Musicians

– Robert Fripp / guitar
– Greg Lake / bass guitar, lead vocals
– Ian McDonald / reeds, woodwind, vibes, keyboards, mellotron, vocals
– Michael Giles / drums, percussion, vocals
– Peter Sinfield / words and illumination

Releases information
LP Atlantic 8245 (1969)
CD Virgin 848099 (2001)
LP EG EGLP-1
CD Plan 9/Caroline 1502
CD Caroline 1502 (1999)
CS EG EGMC-1
CD EMI 811270
CD Discipline GM UK (2005)

Cùng vào khoảng thời gian đó, những nhóm khác cũng đang bắt đầu phát triển những phong cách độc đáo, tinh tế & sáng tạo, trong đó có thể kể đến Genesis, Caravan, Jethro Tull, PFM, Pink Floyd và Stupertramp. 30 năm sau này, vô số những band nhạc prog sẽ nhắc đến họ khi đề cập đến những di sản của prog rock.
Một điều rất đáng chú ý rằng, trừ ELP, những band này bắt đầu sự nghiệp của họ trước cả KC, nhưng cuối cùng lại thay đổi phong cách nhạc bằng việc đi theo In the Court Of The Crimson King. Còn với ELP, họ lại được thừa hưởng tay bassist kiêm singer Greg Lake từ King Crimson

Prog được đặc biệt ưa thích ở châu Âu. Thật vậy, PR là thể loại đầu tiên làm say đắm ng` nghe ở nhiều đất nước như Ý và Pháp. Thời kì này chứng kiến một số lượng lớn progressive band ở châu âu, đặc biệt đáng kể là Premiata Forneria Marconi (PFM) và Banco del Mutuo Soccorso (đã nói ở trên), Le Orme từ Ý, Ange và Magma từ Pháp. Trong những band này chỉ có PFM là thành công đặc biệt trong giới prog dùng tiếng Anh. Đức cũng có một band Prog nổi tiếng, thường được nhắc đến là Krautrock. Đặc biệt Prog ở Ý được biết đến và nói đến như 1 thể loại riêng rẽ (“Italian symphonic rock”), mặc dù đa số các ban nhạc này chỉ thành công trên quê hương họ. Ngày nay những CD của những ban nhạc vô danh trước đây như Museo Rosenbach, Osanna, Il Balletto di Bronzo, Semiramis etc.,cùng những CD danh tiếng hơn, lại được các progfan thực sự ưa thích classic prog lùng kiếm và nó cũng thu hút thị hiếu âm nhạc cao của những nhà phê bình nghệ thuật và các trường ĐH.

Một yếu tố mạnh mẽ của những người tiên phong và nền văn hoá-đối lập được kết hợp với 1 Prog. Vào những năm 70, Chris Cutler của Henry Cow tạo thành 1 bộ sưu tập lỏng lẻo của những nghệ sĩ được nhắc đến như RIO mà mục đích của nó về cơ bản là để đối lập lại với nền công nghiệp âm nhạc. Những thành viên gốc gồm nhiều nhóm khác nhau như Henry Cow, Samla Mammas Manna, Univers Zero, Etron Fou Leloublan, Stormy Six, và Art Zoyd, Art Bears, Aqsak Maboul về sau. Phong trào này chỉ tồn tại trong 1 thời gian ngắn nhưng những nghệ sĩ đã được biết đến như một trong số những người tiên phong của Avant-progressive rock. Âm nhạc tăm tối, lối chơi phóng túng, và bất chấp những cấu trúc thông thường, tất cả những điều đó được dùng để miêu tả những nghệ sĩ này.

Dưới đây danh sách 1 số band nhạc vĩ đại nhất, những con người đã đặt nền móng cho “làn sóng prog rock” đầu tiên.

The Moody Blues – Anh Quốc
Năm 1964 The Moody Blues bắt đầu sự nghiệp khi chơi 1 trường phái nhạc rock chịu ảnh hưởng sâu sắc từ R&B. Thế nhưng sau này họ lại được người đời nhắc đến với danh nghĩa 1 trong những nhóm nhạc cách tân & tồn tại lâu dài nhất trong số những band xuất hiện từ những năm 60. Các thành viên bao gồm: Graham Edge (trống), Mike Pinder (keyboard), Ray Thomas (guitar), John Lodge (bass), & Justin Hayward (guitar). The Moodies đã hớp hồn các fan âm nhạc trên khắp thế giới với album mang tính chất bước ngoặt Days of the Future Passed, 1 trong những tác phẩm rock cổ điển sớm nhất, trong đó có sự cộng diễn của Giàn giao hưởng fesvital thành Luân Đôn. Đây thực sự là 1 album không thể bỏ qua trong bộ sưu tập của bạn.
Từ năm 1967 đến 1974, họ đã sáng tác 7 album rất thành công, trong đó tất cả đều được trao giải đĩa vàng, ví như On the Threshold of a Dream hay Question of Balance. Kể từ những năm 70 âm nhạc của họ bắt đầu mang đầy tính tham vọng, chất nhạc đồng quê & tính nhân văn sâu sắc. Những bản nhạc của họ được cả 5 thành viên tham gia sáng tác. Sau đó vào giữa những năm 70 nhóm dường như chìm vào “giấc ngủ đông”, khi mỗi người bọn họ đều phát hành album solo (Hayward & Lodge là 2 người thành công nhất, với tác phẩm Blue Jays).
Nhóm tái hợp trong thập niên 80 & lại tiếp tục sự nghiệp đang còn dang giở khi họ cho ra album Long-Distance Voyager. Mặc dù trong thập niên 90 họ đã xuống dốc (về mặt thương mại), nhưng The Moodies vẫn mở những tour diễn & đôi lúc vẫn cho ra đời những album mới – trong đó có Strange Time (1999).
Những album xuất sắc: Days of Future Passed (1967), In Search of the Lost Chord (1968), On the Threshold of a Dream (1969), To Our Children’s Children’s Children (1970), A Questrion of Balance (1970), Every Good Boy Deserves Favour (1971), và Seventh Sojourn (1972)

Pink Floyd – Anh Quốc
Pink Floyd là 1 trong những ông tổ của trường phái prog rock. Nhưng không những thế, có lẽ họ còn là nhóm được ưa thích nhất thuộc dòng nhạc này. Syd Barrett, người thành lập nhóm – nay đã quá cố, cũng chính là người đã đặt tên cho band dựa theo tên của 2 nhạc sĩ blues: Pink Anderson & Floyd Council. 2 cái tên này hợp lại có nghĩa là hồng hạc (pink flamingo). Pink Floyd được thành lập từ giữa thập niên 60, thời cực thịnh của psychedelic rock, thế nhưng thực tế họ lại đóng góp không nhỏ vào trường phái mà ngày nay chúng ta gọi là progressive rock, & cả space rock nữa.
Những album xuất sắc: The Dark Side of the Moon (1973), Wish You were Here (1975), Animals (1977), và The Wall (1979)

Jethro Tull – Anh Quốc
Mặc dù các thành viên của Jethro Tull đều là các nghệ sĩ bậc thầy, nhưng trên thực tế hầu hết công cuộc gây dựng & duy trì nhóm lại là công lao của 1 mình Ian Anderson (vocal, lời nhạc & sáo). Thật vậy, nghệ thuật chơi sáo của Anderson là 1 trong những nhân tố đặc thù của nhóm. Nhạc của họ là sự kết hợp giữ folk, nhạc trung cổ, blues, jazz, rock, nhạc cổ truyền, v.v… & v.v… Ngày nay, khi đã bán được 60 triệu bản đĩa & mỗi năm lại tổ chắc hơn 250 buổi hòa nhạc tại 40 nước trên thế giới, Jethro Tull vẫn liên tục sáng tác & lưu diễn. Có thể nói rằng, họ là 1 trong những tượng đài của làng progressive rock, & là 1 trong những nhóm được ưa chuộng nhất.
Những album xuất sắc: Aqualung (1971), Thick as a Brick (1972), và Heavy Horses (1978)

Caravan – Anh Quốc
Năm 1967 The Wilde Flowers, 1 band nhạc R&B/jazz (thành lập tại Canterbury năm 1964), tan rã. Từ những tàn tích của nhóm, tháng 1 năm 1968 Pye Hastings (guitar kiêm vocal), Richard Sinclair (bass kiêm vocal), David Sinclair (keyboard), & Richard Coughlan (trống) đã vực dậy & thành lập Caravan. Sự pha trộn tính hài hước với nhạc progressive đã tạo nên 1 phong cách rất đặc trưng của Caravan, tuy rằng nó vẫn chịu ảnh hưởng từ nhạc cổ điển, jazz & nhạc cổ truyền Anh. Ngày nay nhóm vẫn hoạt động, & vẫn mở rất nhiều show diễn live tại Anh & Hà Lan, và 2002 đã đánh dấu chuyến lưu diễn đầu tiên của họ tại Hoa Kì trong sự nghiệp 28 năm.
Album xuất sắc: If I Could Do it All over Again, I’d Do it All over You (1970), In the Land of Grey & Pink (1971), và For Girls Who Grow Plump in the Night (1973)

King Crimson – Anh Quốc
Nhiều người cho rằng progressive rock xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1969 với sự ra mắt album đầu tay của King Crimson. Tuy vậy, như đã trình bày trên trên, những mầm mống của trường phái progressive thực tế đã được thai nghén từ 1967 (hoặc thâm chí trước đó). The Beatles, Pink Floyd, The Moody Blues và Procol Harum đều đã “lát đường” cho prog trong những năm từ 1967 đến 1969. Năm 1969, 1 nhóm nhạc sĩ trẻ người Anh đã cho ra đời album In the Court of the Crimson King khi mới chỉ làm việc với nhau được vài tháng. Được thành lập nhờ Robert Fripp (guitar), King Crimson từng phải trải qua nhiều giai đoạn thay đổi “hàng ngũ”. Trong số những gương mặt đã từng chơi trong nhóm có những nhân vật nổi trội như Greg Lake, Bill Bruford, John Wetton, Adrian Belew & Tony Levin. Mặt khác, ngoài King Crimson ra Fripp còn cộng tác với 1 số nhạc sĩ khác như Brian Eno, Peter Gabriel & David Bowie, và để lại cho chúng ta 1 vài album solo của ông.
Album xuất sắc: In the Court of the Crimson King (1969), In the Wake of Poseidon (1970), và Lizard (1970)

Genesis – Anh Quốc
Trước khi quay lưng & đi theo trường phái pop-rock vào giữa thập niên 80, Genesis đã từng là 1 trong những prog band được nhiều người sùng bái nhất. Thời hoàng kim của nhóm là vào năm 1971, khi tay giống Phil Collins & tay guitar Steve Hackett gia nhập nhóm (lúc đó mới gồm vocalist Peter Gabriel, keyboard Tony Banks & tay bass Mike Rutherford). Các bản nhạc của họ trở nên mềm mại, uyển chuyển mà hoành tráng hơn nhờ nghệ thuật sân khấu & đệm lời độc đáo của Peter Gabriel cộng thêm keyboard của Tony Banks (chủ yếu là mellotron). Có thể nói rằng, Genesis là 1 trong số ít những band có ảnh hưởng lớn đến prog rock, & di sản của họ sẽ còn được người đời nhớ đến dài dài.
Album xuất sắc: Nursery Cryme (1971), Foxtrot (1972), Selling England by the Pound (1973), The Lamb Lies Down on Broadway (1974)

Van der Graaf Generator – Anh Quốc
Có thể VdGG không phải là nhóm nhạc đầu tiên bạn nghĩ tới khi đề cập đến prog rock, nhưng album Pawn Hearts của họ không những đáng được thưởng thức, mà nó còn có giá trị to lớn về mặt lịch sử. Peter Hammill (vocal, lyrics) mang 1 giọng hát khá đặc biệt, 1 giọng hát có ảnh hưởng sâu sắc tới nhiều tay prog vocal lớp hậu sinh sau này. Trong Pawn Hearts, nhóm cũng sử dụng piano, keyboard, kèn saxophone, & cả guitar do Robert Fripp (King Crimson) đảm nhiệm. Mặc dù âm hưởng của folk, blues, rock & jazz đều hiển hiện trong phong cách của VdGG, ta không thể liên hệ trực tiếp những trường phái này với nhạc của họ.
Album xuất sắc: H to He, Who am the Only One (1970), Pawn Hearts (1971), Godbluff (1975), và Still Life (1976)

Yes – Anh Quốc
Cùng với Genesis, Yes cũng là 1 trong những nhóm có ảnh hưởng lớn nhất đến trường phái progressive. Thời hoàng kim của Yes bắt đầu từ 1971 (cùng thời với Genesis), khi “đội hình” của họ gồm Jon Anderson (vocal, lyrics), Chris Squire (bass), Steve Howe (guitar), Bill Bruford (trống) & Tony Kaye (keyboard). Tuy vậy, Yes chỉ đạt tới đỉnh cao thật sự khi Tony Kaye được thay thế bởi thiên tài Rick Wakeman vào năm 1972. Tại thời điểm đó, có lẽ đội hình của Yes bao gồm những thành viên tài năng nhất trong lịch sử prog rock.
Album xuất sắc: The Yes Album (1971), Fragile (1972), và Close to the Edge (1972)

The Strawbs – Anh Quốc
Nhóm nhạc nổi đình nổi đám thời thập niên 70 này có nhiều điều khác biệt với lớp đàn anh đi trước (The Moody Blues, King Crimson, Pink Floyd). Âm nhạc của họ là sự kết hợp giữa nhạc dân ca cổ truyền Anh & rock hiện đại, tạo nên 1 phong cách độc nhất vô nhị. Trong sự nghiệp của mình The Strawbs đã phát hành 15 album, đã trải qua nhiều đợt thay người, & cũng là nhóm đầu tiên chiêu mộ tay keyboard Rick Wakeman. Nhân vật duy nhất chưa từng bị thay thế là Dave Cousins, trưởng nhóm (ông này cũng đã từng cho ra đời nhiều album solo kiệt xuất). Thời đỉnh cao của nhóm bắt đầu với album Grave New World, & kết thúc với Ghosts, còn album hay nhất có lẽ là Bursting at the Seams.
Album xuất sắc: From the Witchwood (1971), Grave New World (1972), Hero & Heroine (1974), và Ghosts (1975)

Le Orme – Italy
Italy cũng là nơi sản sinh ra nhiều tài năng prog rock vào thập niên 70 & 90, và Le Orme chính là 1 trong những tài năng đó. Được thành lập dưới trướng tay bass Aldo Tagiapietra, keyboard Toni Pagliuca & tay trống Mike dei Rossi, nhóm gợi cho chúng ta nhớ đến những band được thành lập dựa vào keyboard như Rare Bird, The Nice, Atomic Rooster, etc. & thậm chí cả Banco del Mutuo Soccorso. Tuy chỉ tồn tại trong thập niên 70, nhưng trong thời gian đó nhóm đã sáng tác được 4 album prog rock tuyệt hảo, mang đậm dấu ấn phong cách Emerson, Lake & Palmer.
Bước sang thế kỉ 21, Le Orme đã tái hợp với 1 đội hình 4 người (keyboard/sitar, bass, keyboard & trống), cộng thêm tay guitar cộng diễn của Il Fiume, và họ lại tiếp tục những gì đã bỏ sót ngày xưa. Họ vẫn sáng tác những album mới, ví như Elementi (2001) & L’Infinito (2004).
Album xuất sắc: Felona e Serona (1973), Contrapunti (1974), và Elementi (2001)

Renaissance – Anh Quốc
Được gây dựng lên từ đống tro tàn của The Yardbirds (cũng là căn nguyên của Led Zeppelin) vào năm 1969, Renaissance cũng từng trải qua nhiều lần thay người, với sự ra đi Keith, Jane Relf & McCarty vào năm 1971. Sau đó nhóm đã phát hành 2 album nhưng chưa bao giờ thật sự thành công trong làng prog. Đội ngũ mới của Renaissance bao gồm Michael Dunford (guitar), Jon Camp (bass), John Tout (keyboard), Terry Sullivan (trống) & Annie Haslam (vocal); tuy nhiên lời nhạc lại được nữ thi sĩ Betty Thatcher sáng tác. Renaissance đã kết hợp 2 luồng nhạc cổ điển & rock để tạo nên 1 số những tác phẩm điêu luyện vào loại bậc nhất trong trường phái progressive folk rock. Thế nhưng đến cuối những năm 70 dòng prog folk bắt đầu mờ nhạt dần, kéo theo đó là sự tụt hạng của nhóm.
Album xuất sắc: Ashes are Burning (1973), Turn of Cards (1974), Scheherezade and Other Stories (1975), và A Song for All Seasons (1978)

Emerson, Lake & Palmer – Anh Quốc
Emerson, Lake & Palmer là “band siêu hạng” đầu tiên trong làng prog: Keith Emerson đã từng là keyboard của The Nice, Greg Lake từng là tay bass/vocal trong King Crimson, Carl Palmer – tay trống trong nhiều nhóm (trong đó có Atomic Rooster). Nhạc của Emerson, Lake & Palmer chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nhạc cổ điển; thật vậy, ngoài những tác phẩm prog rock bình thường, nhóm còn cho ra đời rất nhiều tuyệt tác cổ điển pha prog rock không lời khác. Âm thanh của cây đàn Moog synthesizer chính là 1 trong những yếu tố quyết định trong phong cách của nhóm. Họ cũng được biết đến qua tài năng trong nghệ thuật sân khấu – điển hình là cách thức Emerson sử dụng đàn Hammond organ.
Album xuất sắc: Emerson, Lake & Palmer (1970), Tarkus (1971), Trilogy (1972), Brian Salad Surgery (1973)

Gentle Giant – Anh Quốc
Gentle Giant là 1 band nhạc độc nhất vô nhị, nhưng lại bị xem thường bởi công luận, kể cả những fan prog rock. Nhạc của Gentle Giant là sự kết hợp hài hòa mà phức tạp giữa rock cổ truyền & nhạc trung đại, cộng thêm âm hưởng của nhạc cổ điển, jazz & folk, và thường đề cao những đoạn vocal cũng như không lời vô cùng phức tạp, rối rắm khiến nhiều fan prog còn non chạy mất dép.
Album xuất sắc: Gentle Giant (1970), Three Friends (1972), The Power and Glory (1974), và Free Hand (1975)

Hawkwind – Anh Quốc (1970)
Qua 30 năm diễn xuất, có lẽ Hawkwind đã trở thành nhóm rock underground nổi tiếng nhất thế giới. Họ được thành lập trong cuối thập niên 60 bởi Dave Brock (guitar kiêm vocal), Mick Slattery (guitar) & Nik Turner (saxophone, sáo kiêm vocal). Dave Brock chính là trưởng nhóm, & là người lèo lái Hawkwind. Nếu không có ông, chắc chắn nhóm sẽ không thể tồn tại được đến ngày hôm nay.
Lịch sử của Hawkwind đặc biệt ở chỗ, trong 1 thời gian nhóm đã phải thay người trên dưới 40 lần. Âm nhạc của họ luôn luôn đổi mới: từ 1 phong cách đậm chất jazz (Hawkwind), đến âm thanh acoustic đầy tính thực nghiệm trong những album đầu tay (In Search of Space), rồi đến phong cách metal trong thời thịnh trị (giữa thập niên 70), rồi cuối cùng là âm thanh điện tử trong những album mới nhất (Electric Teepee). Thông qua những cuộc thực nghiệm, thay đổi phong cách như vậy, Hawkwind đã tạo ra 1 nhánh mới trong làng prog, được biết đến với cái tên psychedelic space-rock, & họ cũng đã trở thành những bậc thầy của trường phái acid-space rock.
Album xuất sắc: In Search of Space (1971), Hall of the Mountain Grill (1974), Warrior on the Edge of Time (1975), và Leviation (1980)

Supertramp – Anh Quốc
Có 1 trường phái gần giống với progressive rock mà người ta gọi là sophisto rock. Supertramp là 1 nhóm pop với 1 phong cách phức tạp, 1 nhóm nhạc vẫn còn khả năng sáng tác những ca khúc tuyệt hảo như Crime of the Century và Dreamer. Đó là những ca khúc độc nhất vô nhị, sôi nổi & vui nhộn. Những album đầu tiên của nhóm chính là sự thoát li khỏi cái vô cảm thường được thể hiện trong prog rock. Vì thế, nhạc của Supertramp được người đời mô tả là đồng bóng, vui tươi, mịn màng, v.v… & v.v… 1 điều đáng chú í nữa là đôi lúc họ lại pha trộn chút hài hước vào nhạc của mình. Ngày nay, khi đã bán được 18 triệu bản trên toàn thế giới, album Breakfast in America của nhóm có thể được coi là 1 trong những album pop/rock vĩ đại nhất của thập niên 70. Sau album này, Supertramp liền chuyển hướng & phong cách của họ bắt đầu thiên về R&B hơn.
Album đại diện: Crime of the Century (1974), Crisis? What Crisis? (1975), Even in the Quietest Moments (1977), Breakfast in America (1979)

Eloy – Đức
Eloy có thể xem là ông hoàng của trường phái prog Đức. Sự trường tồn của nhóm là nhờ công của Franck Bonermann, người đàn ông đã hoạch định số phận của Eloy ngay từ năm 1971. Tất cả những nghi ngờ về khả năng trụ vững của nhóm từ phía công luận đã bị đập tan khi họ phát hành tuyệt phẩm Ocean 2 vào năm 1998. Trong album đó, hiện tại & quá khứ đã hợp nhất, tạo nên 1 tác phẩm symphonic/echo-electronic đỉnh cao, mở đường cho những thành công kế tiếp. Tại xứ sở của đại thi hào Goethe, người ta vẫn trọng vọng Eloy như người Italy đã từng tôn sùng PFM, Le Orme hay Banco.
Album đại diện: Dawn (1976), Ocean (1977), Silent Cries and Mighty Echoes (1979), và Ocean 2 (1998)

Premiata Forneria Marconi – Italy
Có thể nói PFM là nhóm nhạc prog Italy nổi tiếng nhất. Nhạc của họ mang âm hưởng của Genesis và Elp, & được phong phú hóa nhờ sự sử dụng đàn vĩ cầm, tạo nên 1 thứ âm thanh không nhóm nào khác có được. Trong 1 nỗ lực nhằm thu hút sự chú í của nhiều người hơn (nhất là những nước nói tiếng Anh), người ta đã thuyết phục PFM cover lại (bằng tiếng Anh) 2 album được họ sáng tác năm 1972. Pete Sinfield (người đệm lời cho King Crimson) đã đảm trách nhiệm vụ dịch (hay nói đúng hơn là sáng tác lại) lời cho album Photos of Ghosts. Tuy không được hay bằng phiên bản gốc tiếng Italy, Photos of Ghosts vẫn là 1 album đáng được các fan progressive để mắt tới.
Album đại diện: Storia di un Minuto (1972), Per un Amico (1972), và Photos of Ghosts (1973)

Banco del Mutuo Soccorso – Italy
Thường được so sánh với Emerson, Lake & Palmer hay Genesis trong thời kì hoàng kim, không thể phủ nhận rằng Banco là 1 trong những band prog rock người Italy vĩ đại nhất trong thập niên 70. Nhạc của họ mang âm hưởng của folk, nhạc cổ điển, cộng thêm của những nhóm thực nghiệm của Anh thời đó, ví như Genesis, The Nice & nhiều nhóm khác. 3 album đầu tiên của Banco là 3 tác phẩm kinh điển, mang đậm chất baroque, tiếng keyboard tuyệt vời của anh em nhà Nocenzi, tiết tấu cực kì phức tạp & vocal mạnh mẽ. Bước sang thế kỉ mới, Banco vẫn còn đó, vẫn chơi thứ nhạc tinh tế đó, với sự 1 nồng nhiệt chưa hề phai sau hơn 30 năm trời.
Album đại diện: Banco del Mutuo Soccorso (1972), Darwin (1972), Io sono Nato Libero (1973), và Banco (1975)

Camel – Anh Quốc
Nếu như Jethro Tull là hiện thân của Ian Anderson, thì Camel lại là hiện thân của cây guitar Andy Latimer. Nhạc của Camel chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi jazz, & những ca khúc của họ thường rất dài, mang theo những đoạn nhạc không lời du dương trầm bổng. Họ chính là 1 trong những mũi giáo trong phong trào progressive rock, & có quan hệ ít nhiều với trường phái prog tại Canterbury – trong thời kì đầu (đầu thập niên 70) họ đã từng đi theo bước chân của Caravan trước khi tự tạo cho mình 1 phong cách riêng. Hiện tại nhóm vẫn còn hoạt động, & đã tuyển thêm 1 tay trống người Canada gốc Pháp.
Album đại diện: Mirage (1974), The Snow Goose (1975), Dust & Dreams (1991), và Harbor of Tears (1996)

Rush – Canada
Rush là 1 nhóm 3 người được thành lập tại Canada giữa thập niên 70. Phong cách của họ thay đổi theo từng 3 album một, bắt đầu từ Caress of Steel (1975) & 2112 (1976), khi sự nghiệp của nhóm bắt đầu thăng hoa. Rồi album thứ 3, A Farewell to Kings ra đời (1977) & chứng minh Rush là 1 band nhạc prog thật sự. Tuy vậy, Hemispheres (1978) mới là album đem đến thành công trên toàn thế giới cho họ, & Rush trở thành 1 trong những nhóm prog đáng được kính nể.
Album đại diện: 2112 (1976), A Farewell to Kings (1977), và Hemispheres (1978)

Kết thúc giai đoạn đầu
Chắc hẳn mọi người để í thấy rằng, tất cả các band được đề cập đến ở trên kia đều thành lập vào giai đoạn trước năm 1975. Đó là bởi vì đến thời điểm đó, giống như thời trang, prog rock đã bị bỏ ngỏ. Công luận bắt đầu chạy theo “mùi mới”, punk rock. Đó là 1 quá trình hoàn toàn tự nhiên. Thêm nữa, các nhóm prog cũng bắt đầu sáng tác những album quá đỗi phức tạp, làm giảm đi phần nào thiện í từ phía công luận. Vì thế, từ năm 1975 trở đi, prog rock tụt dốc thê thảm, & gần như biến mất trong nhiều năm. Thật vậy, không những suy yếu rõ rệt, mà trường phái này còn bị các đấu trường âm nhạc phẩy tay. Tuy nhiên, prog rock đã được phục hồi khi cái thâm thúy, nghệ thuật bậc thầy, sự tinh tế & trí tưởng tượng phong phú gắn liền với nó hất cẳng cái đơn điệu & “sự thật phũ phàng” có trong punk. Vào đầu những năm 80, 1 vài tên tuổi gạo cội, cùng với nhiều nghệ sĩ trẻ đã hợp sức tạo nên 1 làn sóng prog rock mới, và làn sóng này vẫn còn tồn tại đến ngày nay dưới nhiều hình thức khác nhau.