Progressive Rock P.3: Giai đoạn 2 (1980 – 1989): neo-progressive rock

Như ta đã biết, cuối thập niên 60, đầu thập niên 70 là giai đoạn hoàng kim của progressive rock, thế nhưng nó cũng là thời nó bị công luận phẩy tay, bôi nhọ. Tuy nhiên bất chấp những lời rèm pha ấy, & bất chấp làn sóng punk đang nổi lên như cồn từ 1977, 1 vài nhóm prog vẫn kiên định với trường phái của mình & tiếp tục sáng tác. Vài ban nhạc Prog đã mạnh dạn thay đổi phong cách, làm cho nó đơn giản và mang tính thương mại hơn. Vào năm 1982, nhóm nhạc được mong đợi nhiều nhất là Asia gồm Yes, ELP, King Crimson, và Yes, đã gây kinh ngạc (và thất vọng) với album đầu tay mang phong cách pop. Single “Heat of the Moment” lọt vào top 5 và lên xuống mạnh mẽ trong xếp hạng MTV trong nhiều năm, trong khi album đầu tiên của Asia trở thành 1 đĩa phải hạ giá vào năm 1982. Điều này chm 1 thị trường PR ở Anh có nhiều tính thương mại hơn, ngẫu nhiên, phong cách này cùng được cho ra đời bởi các band Journey, Styx trong vài năm.

Một số ban nhạc Anh khác đã đi theo ví dụ có lợi của Asia. 1983, Genesis đạt được vài thành công quốc tế với “Mama”. Điều này cho thấy 1 chỉ đạo rất thương mại trong suốt những năm 80. Vào 1984, Yes cũng có sự trở lại ngạc nhiên với 90125, với single số 1 của họ tại Mĩ : “Owner of a Lonely Heart.”. Viết bởi tay guitar Trevor Rabin – là người đầu tiên tham gia Yes, “Owner” đã đưa đến cho họ 1 con đường chơi nhạc discos. ….. Tương tự, Pink Floyd’s A Momentary Lapse of Reaso xuất hiện những ca khúc ngắn và nhiều âm thanh điện tử hơn.

Rất nhiều Progfan ko thích xu hướng này của các band trên, nhưng 1 số khác lại chấp nhận sự thay đổi và trở nên ưa thích loại nhạc đó. Chẳng hạn như Yes đã tận hưởng sự phục hưng ngắn trong những năm 80 với 1 lượng fan gồm cả cũ và mới. Ngoài ra, nhiều Progband khác như Rush đc cho là đã mang đến những chất liệu âm nhạc xuất sắc nhất của họ khi trộn lẫn âm nhạc của New Wave với những âm thanh của Prog thời kì đầu. Những nhóm còn lại, ví như King Crimson, thì vẫn chơi prog thuần, nhưng đã bỏ lại đằng sau những âm hưởng của nhạc thính phòng. Trong thập niên 70 này, duy chỉ có Rush là thành công trong việc hợp thể 2 yếu tố progressive & âm nhạc thị trường, vốn đã kị nhau như lửa với nước, để trở thành 1 band siêu hạng thực sự.

Cùng lúc đó, bất chấp việc công chúng & các nhà phê bình đã khước từ nhạc prog, vào đầu những năm 80 nhiều nhạc sĩ trẻ vẫn hào hứng muốn lật ngược thế cờ & sáng tác những ca khúc prog rock thực sự. Trong số đó, chỉ có Marillion, IQ và Pendragon là đạt được ít nhiều thành đạt. Tuy nhiên, với thành công của Drama (Yes) vào năm 1980, mặc dù làn sóng prog thứ 2 chỉ tồn tại trong 1 thời gian ngắn, nó đã chứng tỏ rằng trường phái progressive chưa hề bị mai một, và rằng thị hiếu của 1 phần công chúng vẫn rất háo hức với thể loại nhạc này.

Neo-progressive (tân prog)

Nếu như định nghĩa về prog rock vẫn còn mờ mịt & thiếu hoàn chỉnh, thì định nghĩa về neo-prog còn mơ hồ hơn cả vậy, chủ yếu là vì thuật ngữ này được sử dụng cho rất nhiều mục đích. 1 số người sử dụng nó để mô tả nhạc của những nhóm được thành lập trong giai đoạn 2 – tức neo-progressive có nghĩa là làn sóng prog mới. Thiết nghĩ suy luận như vậy cũng hợp lí, bởi vì sau cùng thì, tuy có chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các nhóm prog tiên phong, nhưng nhạc của những nhóm neo-prog cũng có những tính chất khác biệt rõ rệt. Mặc dù vậy, lại có những người cho rằng việc sử dụng thuật ngữ neo-progressive là đã làm giảm giá trị, thậm chí phỉ báng prog truyền thồng – họ tin rằng chỉ những tác phẩm prog rock được sáng tác vào thập niên 70 mới xứng được gọi là progressive. Người viết bài này [không phải mỗ] cho rằng quan điểm này không những thiển cận & bóp méo bản cất của prog rock, mà còn có tiềm năng gây bất hòa giữa các fan hâm mộ. Thật vậy, có những người còn sử dụng thuật ngữ neo-progressive nhằm mục đích miệt thị những band nhóm prog họ không ưa được thành lập sau này.
Dưới đây là danh sách 1 số band nhóm đã có những đóng góp vào công cuộc chấn hưng prog rock trong thập niên 80, & đáng được người đời để mắt tới.

Rush – Canada
Không những đã tạo dựng cho mình 1 hình tượng vững chắc, đáng sùng kính trong lòng người hâm mộ vào thập niên 70, vào đầu thập niên 80 bộ tam Rush đã cho ra đời 3 album mới, đánh dấu 1 bước ngoặt trong sáng tác của nhóm: từ 1 phong cách đặc sệt progressive trở thành 1 phong cách thị trường hơn, mềm mỏng hơn mà vẫn mang âm hưởng prog rõ rệt, và vì thế, thực chất Rush đã thoát thai hoàn cốt, trở thành 1 nhóm neo-prog. Ngoài ra, vào giai đoạn này bìa album của Rush luôn được thiết kể bởi họa sĩ tài ba Hugh Syme, cộng thêm cho khả năng thành công của các tác phẩm.
Album xuất sắc: Permanent Waves (1980), Moving Pictures (1981), và Signals (1982)

Marillion – Anh Quốc
Nhóm được thành lập năm 1978 bởi Mick Pointer dưới cái tên Silmarillion, rồi cây guitar Steve Rothery gia nhập vào năm 1979, Fish (vocal/lyrics) vào năm 1980, và họ đã đổi tên thành Marillion. Sau đó, nhóm liền sáng tác, công diễn & thử nghiệm các tác phẩm trong suốt 2 năm trời trước khi phát hành album đầu tiên vào năm 1982. Mặc dù progressive rõ ràng dó có sự sử dụng những yếu tố prog, nhạc của họ vẫn dễ nghe, dễ hiểu hơn nhạc prog truyền thống. Vì ta, ta có thể lí luận rằng Marillion là band nhạc đầu tiên xứng được gọi là neo-prog. Ảnh hưởng lớn nhất tới sáng tác của nhóm có lẽ là Genesis, thế nên bọn “gà” thường cho rằng Marillion nhái lại Gene. Thật vậy, phong cách vocal của Fish rất giống với Peter Gabriel. Tuy nhiên, ngẫm đi ngẫm lại ta sẽ thấy giọng ca của Fish nghe “đàn ông” hơn nhiều. Sau khi phát hành album đầu tiên, Mick Pointer rời nhóm (để rồi sẽ thành lập Arena vào thập niên 90) & được thế chân bởi Ian Moseley. Fish ra đi vào năm 1988 (sau 4 studio album) & được Steve Hogarth thế chố. Sau sự chia tay của Fish, nhạc của Marillion đã có 1 bước ngoặt mới, & nhờ vậy nhóm đã làm mất lòng các fan hâm mộ cũ, nhưng lại chiêu mộ thêm được nhiều fan mới.
Album xuất sắc: Script for a Jester’s Tear (1983), Fugazi (1984), Misplaced Childhood (1985), Brave (1994), và Marbles (2004)

IQ – Anh Quốc
Nếu loại trừ Marillion, thì IQ là nhóm nhạc đạt được nhiều thành tựu nhất trong giai đoạn 2 này – mặc dù thành quả đó cũng khá khiêm tốn. Giống như những band khác trong làn sóng thứ 2, ban đầu IQ được biết đến nhờ những màn trình diễn ngoại hạng. Studio album đầu tiền của nhóm ra đời năm 1983, & cũng mang âm hưởng của Genesis. Ca sĩ hát chính của họ, Peter Nichols, chia tay vào năm 1985, nhưng đã quay trở lại vào năm 1993 để hoàn thành sáng tác Ever. Album này cũng chứng tỏ rằng, IQ vẫn còn sung sức & sẵn sàng tham gia vào làn sóng thứ 3 của thập niên 90 sau này.
Album xuất sắc: Tales from the Lush Attic (1983), The Wake (1985), Ever (1993), Subterranea (1997), và Dark Matter (2004)

Pendragon – Anh Quốc
Thành lập vào năm 1981, Pendragon phát hành album đầu tiên vào năm 1984 với đội hình gồm Nick Barret (vocal, guitar), Peter Gee (bass), Fudge Smith (trống), & Cleaves Nolan (keyboard). Thế nhưng phải đến thập niên 90, nhóm mới có cơ hội khẳng định được tên tuổi & đẳng cấp của mình. Nhạc của Pendragon thường rất dễ nhận dạng qua những phần solo dài dằng dặc, kèm theo phong thái bá giả (thậm chí phô trương). Cũng như 2 nhóm trên, Genesis & Pink Floyd là những band đã có tác động lớn đến họ.
Album xuất sắc: The Jewel (1985), The World (1991), Window of Life (1993), và The Masquerade Overture (1996)

Kết thúc giai đoạn 2
Thập niên 80 không phải là 1 giai đoạn vui vẻ đối với các nhạc sĩ progressive mới. 1 vài nhóm prog tiên phong, cộng thêm độ dăm bảy nhóm neo-prog, đã trụ vững qua bão tố, nhưng cái giá phải trả thật đau lòng: họ phải thay người liên tiếp, thậm chí phải thay đổi phong cách hoàn toàn nhằm mua vui cho thiên hạ. Mặc dù vậy nhưng 1 số ít những nhóm neo-prog sẽ cho ra đời những tác phẩm đỉnh cao trong thập niên 90, & thậm chí là trong thiên kỉ mới này. 2 ví dụ điển hình là The Masquerade Overture của Pendragon, xuất hiện vào năm 1996, và Dark Matter của IQ, xuất hiện năm 2004.