Progressive Rock P.4: Giai đoạn 3 (1990 – hiện tại)

Xuyên suốt thập niên 90 cho đến tận giờ, tinh thần progressive đang dần được hồi phục, 1 phần nhờ những band nhóm đã xuất hiện từ giai đoạn 2 nhưng không thể thể hiện đẳng cấp của mình trước giai đoạn 3. Sự mở đầu đáng chú ý của sự hồi sinh này là bộ ba Swedish bands Änglagård, Anekdoten và Landberk vào năm 1992-1993, để rồi sau đó đã trở thành cái gọi là “Third Wave”. Mũi nhọn của những band này là The Flower Kings (Swe), Porcupine Tree (UK), Finisterre (It) và Deus Ex Machina, Spock’s Beard, Echolyn Glass Hammer (US). Arjen Anthony Lucassen với 1 tập hợp gồm dàn nhạc công hùng hậu, tài năng của rất nhiều các thể loại rock khác nhau đã sản xuất là một loạt các album concept giá trị. Tuy vậy, trong khi ko cần thiết phải lưu giữ nhưng âm thanh cũ của prog, rất nhiều band Third Wave vẫn có những ràng buộc rất chặt chẽ với prog rock của thập niên 70 trong các sáng tác của họ.

Một trong những band quan trọng nhất trong sự vận động của Alt. Rock, The Smashing Pumpkins đã kết hợp chặt chẽ Progrock vào phong cách kì quặc, điện tử của họ, và đã cho ra 2 album với cùng 1 ý niệm. Seattle’s Soundgarden đã giúp nối lại chỗ trống giữa progressive rock và Grunge. Phish được nhắc đến với album đầu tiên của họ như là một ví dụ về kỹ thuật của Prog bởi âm thanh kì quặc và sự kết hợp của nhiều yếu tố được xem như đặc trưng của PR. Junta của Phish phát hành năm 1988 thường được xem như là ranh giới của PR những năm 80.

Trong những năm gần đây, 1 trong những loại prog giàu sức sống nhất là Progressive Metal – đậm tính thương mại hơn, là sự pha trộn giữa 1 vài yếu tố thông thường của PR (những sáng tác dài, album trình diễn trình độ kỹ thuật cao) với sự mạnh mẽ và hung hãn theo tư tưởng của metal. Một phân biệt đặc trưng của Prog Metal là sự nổi bật của keyboard trong âm nhạc metal – thường chỉ là guitar chiếm ưu thế. Vài band đi đầu trong thể loại pro-metal (Dream Theater (U.S.), Ayreon (Netherlands), Opeth (Sweden), and Fates Warning (U.S.)) xem những progressive hard-rockers tiên phong Rush như 1 ảnh hưởng đầu tiên., dù nhạc của họ cho thấy họ cũng chịu những ảnh hưởng mạnh mẽ ko kém từ những band như Black Sabbath, Deep Purple. Tool đã ca ngợi King Crimson như ảnh hưởng lớn nhất trong các sáng tác của họ. KC khai mạc tour diễn năm 2002 của Tool, đã bày tỏ sự thán phục với Tool đồng thời khiêm tốn từ chối cái mác “progressive”.

Trong khi đó, nhiều band heavy metal khác nhìn chung ko được xem như pro-metal, nhưng đã kết hợp chặt chẽ những yếu tố ảnh hưởng từ pro như sự luân phiên kì lạ trong nốt khoá và độ nhanh trong âm nhạc. Trong những năm gần đây, 1 số band có ảnh hưởng classic nặng nề đã nổi lên ở châu Âu, đáng kể nhất là Nightwish của Phần Lan. Mặc dù họ hầu như ko nghĩ rằng họ là pro-metal band, fan của loại nhạc này thường xem họ là như thế và thực vậy, 1 số ko nhỏ fan đã đòi hỏi ít nhiều về sự đặc trưng của Prog Metal là phải giống như Dream Theater.

Cần chú ý rằng là ‘progressive’ vào đầu những năm 70 được tạo ra để nhấn mạnh sự mới mẻ của những band này, nhưng cho tới những năm 80 thể loại này đã trở thành tên của 1 loại nhạc đặc trưng. Kết quả là, nhưng band như KC tiếp tục cập nhật nhạc của họ nhưng ko thường tự gọi là progressive, trong khi 1 vài band mới tự xưng là prog-band đã tìm lại cách lồng ghép với mellotrons trong âm nhạc nhằm tái tạo lại prog vào đầu những năm 70. Fan và những nhà phê bình thù địch đã cho “Progressive Rock” như 1 cái tên cố định của thể loại này, và vì vậy mối liên hệ đến ý nghĩa thực sự của “Progressive” đã gần như bị quên lãng.

Hầu hết các nhóm như vậy (trong đó có Pendragon và IQ) đều chịu ảnh hưởng ít nhiều từ những band tiên phong thời cuối những năm 60, đầu những năm 70 như Genesis và Pink Floyd. 1 phần khác của sự chấn hưng cũng nhờ vào sự tái xuất trên nhạc trường của các nhóm tiên phong như Genesis, Pink Floyd, Elp và Gentle Giant, cộng thêm sự xuất hiện của các nhóm mới như Porcupine Tree, Arena, Flower Kings và Spock’s Beard.
Dưới đây là danh sách 1 số những nhóm đã có đóng góp đáng kể đối với sự tái sinh của prog rock trong thập niên 90.

Porcupine Tree – Anh Quốc
Porcupine Tree được thành lập trong giai đoạn 3 của prog rock. Lúc đầu PT chỉ là 1 solo project của Steve Wilson, người vừa là ca sĩ, vừa là nhạc sư trưởng trong nhiều project lớn nhỏ khác nhau. Ông này cũng từng lưu diễn cùng No-Man, Bass Communion, I.E.M., & cũng từng đóng góp ít nhiều cho các nhóm Marillion, Fish, Cipher và Opeth. Gần đây, Wilson đang xây dựng 1 project mới cùng ca sĩ người Israel Aviv Geffen (project này có tên BlackField).
Trở lại với Porcupine Tree: ta cũng chẳng có gì nhiều đề nói về nhóm, ngoài việc trong sự nghiệp của mình họ đã cho ra đời nhiều album đáng được để mắt tới, & vẫn còn rất sung sức khi bước vào thiên niên kỉ mới. Những thay đổi về phong cách của nhóm đều phụ thuộc vào tầm quan trọng của PT đối với Wilson khi ông đang thực hiện các project khác. Tóm lại, nhạc của Porcupine Tree có thể được miêu tả là sự kết hợp giữa Pink Floyd, Radiohead, Genesis, King Crimson và Elp cộng lại.
Album đại diện: The Sky Moves Sideways (1995), Stupid Dream (1999), Lightbulb Sun (2000), In Absentia (2002), và Deadwing (2005)

The Flower Kings – Thụy Điển
Được thành lập bởi ca sĩ/nhạc sĩ/cây guitar kì cựu Roine Stolt (cựu thành viên nhóm Kaipa), Flower Kings không những đã trở thành 1 trong những nhóm có tần suất sáng tác cao nhất trong tất cả các luồng nhạc nói chung, mà họ còn là những người dẫn đầu trong phong trào symphonic rock đương đại. Trong vòng 10 năm hoạt động, hầu như mỗi năm họ lại cho ra đời 1 album mới, đôi lúc cả những album kép. Nhạc của Flower Kings gần với symphonic nhất (ảnh hưởng từ Genesis và Yes), nhưng cũng mang âm điệu jazz (ảnh hưởng từ Camel). Roine Stolt là người sáng tác chủ yếu của nhóm, & đôi lúc tay keyboard Tomas Bodin cũng tham gia vào công đoạn này. Các thính giả chưa từng nghe Flower Kings nên bắt đầu với album Back in the World of Adventures, Retropolis hay Space Revolver. Gần đây, bên cạnh Flower Kings, Roine Stolt cũng vừa thành lập 1 band siêu hạng có tên TransAtlantic (2000 & 2001) bao gồm ông, Pete Trewavas (Marillion – bass), Neal Morse (Spock’s Beard – keyboard) và Mike Portnoy (Dream Theater – trống).
Album đại diện: Back in the World of Adventures (1995), Retropolis (1996), Flower Power (1998), và Space Revolver (2000)

Arena – Anh Quốc
Arena là 1 trong những nhóm neo-progressive vượt trội trong thập niên 90, với các cựu thành viên của Marillion (tay trống Mick Pointer) & Pendragon (keyboard Clive Nolan). Bất chấp những khổ sở về vấn đề nhân sự, Arena vẫn có được 1 sự nghiệp rất thành công. Với 1 phong cách nhạc đáng nể tương tự như Genesis, Pink Floyd và Marillion, rõ ràng Arena là 1 trong những nhóm bị đánh giá thấp trong đấu trường prog đương đại.
Album đại diện: Songs from the Lion’s Cage (1995), The Visitor (1998), Immortal (2000), và Contagion (2002)

Spock’s Beard – Hoa Kì
Sự xuất hiện của Spock Beard luôn luôn được coi là 1 điều kì thú, khi nhóm bất ngờ tung ra album đầu tay The Light “thần thánh” vào năm 1995. Động lực chính đăng sau nhóm là nhạc sĩ Neal Morse (đã chia tay vào năm 2003). Những band có tác động lớn đến nhóm bao gồm Gentle Giant, Yes, Genesis, và âm nhạc của họ chính là cửa sổ rộng lớn dẫn dắt người ta vào thế giới prog rock: các sáng tác của Spock’s Beard vừa rất prog, lại vừa dễ nghe, dễ hiểu. Neal Morse cũng là thành viên trong nhóm siêu hạng TransAtlantic, & cũng đã từng hát trong album The Universal Migrator, pt. 1: The Dream Sequencer của Ayreon.
Album đại diện: The Light (1995), V (2000), và Snow (2002)

Sự trỗi dậy của Progressive Metal
Progressive metal đã được hưởng 1 thời kì “phục hưng” vào cuối thập niên 80, đầu 90, qua sự xuất hiện của những nhóm như Queensrÿche, Fates Warning và Dream Theater. Nên lưu í rằng, prog metal là sự kết hợp giữa những yếu tố của cả heavy metal (sự thô nhám, tiết tấu nhanh, & những đoạn nhạc nhịp nhàng, sôi nổi) lẫn prog rock (sự chuyển hóa nhạc hiệu, keyboard kiểu giao hưởng, cộng thêm những sáng tác dài dòng mà thâm túy). Liều lượng của những “gia vị” này được mỗi band áp dụng 1 cách khác nhau. Tuy nhiên, tất cả trong số họ đều có 1 vài điểm chung, đó là trình độ bậc thầy, sự sử dụng synthesizer trong nhiều bản nhạc, & những đoạn guitar solo hút hồn thính giả. Do prog metal vừa là công đoạn tìm tòi 1 âm thanh mới, lại vừa có sự kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố trong âm thanh mới đó, nên việc miêu tả, hay so sánh dòng nhạc này với các dòng khác thường rất khó khăn.

Trong quá trình phục hưng nhạc prog ở thập niên 90, metal rock đã đóng 1 vai trò không nhỏ. Thật vậy, prog metal không những có thể trụ vững trên thương trường, mà nó còn được hưởng thành công cực kì to lớn. Mặc dù rất nhiều band nhạc prog metal (trong đó có Dream Theater, Ayreon, & Pain of Salvation) có chịu ảnh hưởng ít nhiều từ các nhóm tiên phong thời trước, ta không thể phủ nhận rằng, Rush mới là nhóm có tác động lớn nhất đến họ. Và chính bản thân Rush cũng đã lại “hồi xuân” 1 lần nữa khi bước vào thập niên 90.

Rush – 3 nhạc sĩ & 3 thập niên…
Việc kết hợp thành công những yếu tố prog rock xưa (Yes, Elp) với những yếu tố hard rock/metal thô nhám đã khiến Rush trở thành cha đẻ – hay ít nhất cũng là 1 trong những người khởi xướng – progressive metal. Thật vậy, hầu như tất cả mọi nhóm prog metal ngày nay đều nêu tên Rush khi được hỏi về uy lực của các band tiền bối đối với họ. Rush được sáng lập vào giữa thập niên 70 với 1 phong cách lơ lớ giữa rock & prog rock (album Caress of Steel). Đến cuối những năm 70, họ chuyển sang chơi prog rock thuần (Hemispheres), để rồi chuyển sang progressive hard rock vào đầu những năm 80 qua 2 tác phẩm Permanent Waves và Signals. Đây chính là phong cách mà rất nhiều nhóm thời giai đoạn 3 đã tiếp thu.

Sự trỗi dậy của progressive metal (tiếp)
10 năm sau (1992), Dream Theater cho ra đời Images & Words. Album này đã trở thành nền móng cho các nhóm prog metal mới lập, cũng như cho nhiều nhóm giai đoạn 3. Tuy vậy, do những rắc rối xung quanh vấn đề pháp lí & nhiều điều khác, sự trỗi dậy của prog rock thông qua prog metal được công chúng thấy rõ nét ở châu Âu & Nhật Bản hơn là ở Hoa Kì: nhiều band đã từng tồn tại từ thời “phục hưng” này cho đến giờ mới được người Mĩ biết đến.

Trong số những nhóm prog metal lớn ngày nay, Dream Theater là nhóm nổi trội hơn cả. Với sự phát hành Scene from a Memory – 1 tuyệt tác concept – vào năm 1999, Dream Theater đã khẳng định đẳng cấp của mình trong làng prog rock & đem trường phái này trở lại vị trí vốn có trước kia. Pain of Salvation cũng là 1 nhóm prog metal đỉnh cao khác, tuy phong cách có mềm mại & mang nhiều âm hưởng nhạc thính phòng hơn; và cuối cùng là Ayreon (được thành lập bởi cựu thành viên nhóm Vengeance, Arjen Lucassen), 1 band nhạc tiên phong trong đấu trường neo-progressive, hiện đang có trong tay rất nhiều nhạc sĩ prog tài năng.

Ngày nay, prog metal chính là trường phái đem lại cơ hội nhiều nhất cho các nhạc sĩ amateur mà không cần bán đứng lương tâm nghệ thuật. Dù vậy, số phận của phong trào prog đương đại vẫn thật khó lường: mặc dù prog metal đang là “mạch nguồn” lưu thông nhạc prog, 1 vài sự kiện xảy ra ngoài rìa vẫn có khả năng đem lại bão tố cho đầu trường phái này.
Dưới đây là danh sách những nhóm prog metal khả kính, những nhóm đã vực dậy & tạo nên sức sống mới cho dòng nhạc prog rock ngày xưa.

Dream Theater – Hoa Kì
Như đã đề cập ở trên, có lẽ Dream Theater có lẽ là nhóm prog metal có tầm quan trọng lớn nhất trong công cuộc chấn hưng nhạc prog. Họ gồm 5 thần đồng âm nhạc: James LaBrie (vocal), John Petrucci (guitar), Jordan Rudess (keyboard), John Myung (bass), & Mike Portnoy (trống). Nhạc của họ kết hợp giữa những làn điệu hard rock du dương & những giai khúc prog thâm thúy. Lời nhạc biến chuyển khó lường, từ chỗ thơ mộng chuyển sang truu tượng, thậm chí gothic. Những nhóm tác động đến phong cách của DT gồm có Rush, Iron Maiden, Metallica, và cả những prog band tiên phong của thập niên 70 như Pink Floyd, King Crimson hay Yes. Dream Theater đã sáng tác & phát triển dựa theo những ảnh hưởng này trong suốt 17 năm nay; các album của nhóm đã bán được hàng triệu bản tại Hoa Kì và châu Âu, & vé trong các chuyến lưu diễn của nhóm luôn bán chạy như tôm tươi. Thêm vào đó, album thứ 2 của họ, Images & Words (1992), được rất nhiều người xem như là 1 điểm ngoặt trong lịch sử prog metal & có tầm quan trọng ngang hàng với album Close to the Edge của Yes.
Album đại diện: Images & Words (1992), Awake (1994), Metropolis, pt. 2: Scenes from a Memory (1999), Train of Thought (2003), Octavarium (2005)

Ayreon – Hà Lan
Giữa những năm từ 1984 đến 1992, ca sĩ/nhạc sĩ Arjen Lucassan đã phát hành 4 album cùng Vengeance trước khi nhóm tan rã. Vào năm 1994, project ông thường mơ tưởng tới – Ayreon – chào đời. Thực thế thì Ayreon không phải là tên 1 band nhóm, mà là tựa đề của loạt những đề án rock opera do Arjen thực hiện. 1 năm sau (1995), Ayreon cho ra mắt album đầu tiên, The Final Experiment, và tính đến thời điểm hiện tại đã phát hành 6 tác phẩm khác; thế nhưng họ vẫn chưa được nhiều người biết đến. Ngoài Ayreon ra, Lucassen cũng có dính líu tới nhiều project khác, ví như Space Metal (2002) của Space Metal, hay 1 band “giả” khác có tên Ambeon. Với trí tưởng tượng phong phú của mình, Lucassen đã hợp thể các dòng prog metal, space metal, art rock, folk rock & symphonic rock để nhằm xây dựng những bản thiên trường ca rock hoành tráng. Những công trình của ông thường nằm giữa 2 trường phái prog rock thơ mộng & hard rock thô bạo, cộng thêm nhiều yếu tố không gian tương phản. Hàng ngũ của Ayreon luôn thay đổi theo từng album, & thường bao gồm nhiều ca sĩ/nhạc sĩ prog/metal nổi tiếng. Với The Human Equation (2004), Lucassen 1 lần nữa đã xây dựng thành công cầu nối nữa quá khứ & tương lai thông qua 1 phong cách progressive rock tinh vi, thâm thúy.
Album đại diện: The Final Experiment (1995), Into the Electric Castle (1998), và The Universal Migrator, pt. 1 (2000) & 2 (2001)

Pain of Salvation – Thụy Điển
Được thành lập bởi ca sĩ/nhạc sĩ/cây guitar Daniel Gildenlöw (cựu thành viên Reality), Pain of Salvation là 1 trong những nhóm dẫn đầu trong phong trào prog metal, & thường được người đời tôn sùng như Dream Theater. PoS đặc biệt chú trọng vào các concept album, ví như Entropia (1997) hay One Hour by the Concrete Lake (1998). Nhóm luôn đẩy những yếu tố prog metal lên đến giới hạn, & thường pha trộn 1 chút âm hưởng gothic vào nhạc của mình. Nếu so sánh với lớp tiền bối thì PoS có lẽ tương đối giống với Fates Warning thời Parallels/Inside Out, hay Genesis & Pink Floyd hồi mới thành lập. Năm này qua năm khác, album này qua album khác, âm nhạc của họ lại có thay đổi chút ít & ngày càng nhích gần về hướng prog rock cổ điển hơn.
Album đại diện: The Perfect Element, pt. 1 (2001), Remedy Lane (2002), và Be (2004)

Tổng quan giai đoạn 3
Ngày nay, prog rock tồn tại chủ yếu trong những nhóm như Porcupine của Anh Quốc, Flower Kings & Pain of Salvation của Thụy Điển, hay Spock’s Beard & Dream Theater của Hoa Kì. Những nhóm như Radiohead, Godspeed You Black Emperor, Nine Inch Nails, Opeth hay Sigur Ros là những band mới xuất hiện & chỉ sử dụng 1 vài yếu tố prog nhằm cái tiến cho nhạc của mình.
Mặc dù vậy, đấu trường progressive thực sự vẫn đang nở rộ – dù có underground đi chăng nữa – tại Tây Âu (Anh, Italy, Hà Lan), Đông Âu (Hungary, Ba Lan), Hoa Kì, Canada, Mĩ Latin & Nhật Bản với các buổi hòa nhạc lớn nhỏ, với các tạp chí & những người phân phối. Và họ vẫn đang từng ngày tìm kiểm, mở rộng sự hưởng ứng đối với các band nhóm đó cũng nói riêng cũng như dòng nhạc này nói chung.

Kết luận
Nhờ sự nhờ tới kĩ thuật hiện đại của internet, prog rock 1 lần nữa lại đang trong thời kì cao trào. Ngày nay chúng ta không thể phủ nhận rằng, prog rock chưa từng bao giờ bị “chết”, mà chỉ bị vùi lấp & phải chui underground trong thời kì gian khó mà thôi. Và giờ đây nó đã quay trở lại, mạnh mẽ hơn bao giờ hết